Doanh nghiệp Việt Nam đang bị nhiều rào cản làm giảm năng lực cạnh tranh

(Kiến Thức) - Ngày 21/8, tại Hà Nội, Báo Đại biểu Nhân dân đã tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát huy vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia”.

Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018 do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố cuối năm ngoái cho thấy bước nhảy vọt của Việt Nam. Cụ thể, Việt Nam lên hạng 55, tăng 5 bậc so với năm ngoái và 20 bậc so với cách đây 5 năm. Tuy vậy, đáng lưu ý là các quốc gia lân cận cũng tiến hành cải cách, nâng cao sức cạnh tranh và vượt xa nước ta. Bên cạnh đó, những diễn biến và thay đổi của môi trường bên ngoài đang diễn ra nhanh chóng và phức tạp, ngày càng tác động nhiều hơn tới nền kinh tế mở của đất nước.
Và một trong những yếu tố nền tảng của năng lực cạnh tranh Việt Nam chính là trình độ phát triển của doanh nghiệp. Nói cách khác, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp nếu được cải thiện sẽ giúp thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy vậy, hiện có nhiều rào cản, kéo giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh
 
Trong bối cảnh này, Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát huy vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” nhằm thảo luận về: (1) Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia; (2) Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam; (3) Những rào cản – chủ quan và khách quan – mà doanh nghiệp gặp phải trong nỗ lực cải thiện sức cạnh tranh; (4) Các nhiệm vụ chủ chốt đặt ra đối với Chính phủ và doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó thúc đẩy năng lực cạnh tranh quốc gia.
Các khách mời tham gia Tọa đàm có:
- Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội;
- Ông Nguyễn Ngọc Bảo, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế;
- Ông Nguyễn Văn Thân, ĐBQH, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội;
- Ông Ngọ Duy Hiểu, ĐBQH TP Hà Nội, Trưởng ban Quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
- Ông Bùi Ngọc Chương, Ủy viên thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội;
- Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam;
- TS. Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược phát triển;
- TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược NN – PTNT.
Trân trọng kính mời độc giả theo dõi nội dung Tọa đàm:
PGS. TS Đỗ Chí Nghĩa, Tổng Biên tập Báo ĐBND phát biểu khai mạc
Năng lực cạnh tranh Quốc gia không phải là khái niệm quá mới vì Chính phủ đã ban hành Chiến lược nâng cao vai trò cạnh tranh Quốc gia. Và mới đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ký chương trình truyền thông về phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia. Nhưng để các chủ trương, chiến lược lớn ấy đi vào thực tiễn cuộc sống thì các doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng là đầu tàu trong phát triển. Thực tế đã chứng minh, thực tiễn ấy đã góp phần ấy không chỉ giải phóng cho doanh nghiệp trong phát triển mà còn giải phóng cả lý luận, tư duy. Chính vì thế, cùng với sự năng động của doanh nghiệp Việt Nam, với sự cởi mở và đầy trách nhiệm của Chính phủ kiến tạo, chắc chắn năng lực Việt Nam sẽ có thế mới và đóng góp xứng đáng, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-2
 PGS. TS Đỗ Chí Nghĩa, Tổng Biên tập Báo ĐBND phát biểu khai mạc.
Tuy nhiên chúng ta thấy hạn chế còn rất nhiều, trong đó có tâm lý, nhận thức của một số cơ quan chức năng. Chính vì thế, việc khai mở, chỉ rõ rào cản và gỡ rào cản để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển luôn là nhiệm vụ cấp bách, cần thiết, cần bền bỉ, chiến lược lâu dài để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Mặt khác cũng cần phát huy ý chí của doanh nghiệp Việt Nam là không chùn bước, không ngần ngại trước những khó khăn luôn luôn tồn tại trong suốt quá trình từ khởi nghiệp đến phát triển của doanh nghiệp. Những khó khăn này đòi hỏi tự thân doanh nghiệp phải vượt qua mọi sóng gió để vững vàng hội nhập quốc tế.
Chúng ta tin tưởng rằng, với chiến lược lâu dài đó, với nhận thức chung đó sẽ sớm có và có nhiều hơn doanh nghiệp mang tầm vóc quốc tế, xứng danh là doanh nghiệp của quốc gia, xứng danh là trí tuệ và năng lực của dân tộc Việt Nam. Với tinh thần như vậy, chúng tôi rất mong các vị đại biểu, các vị khách quý, các nhà quản lý, chuyên gia sẽ cùng trao đổi cởi mở, chỉ thẳng nói rõ với tinh thần trách nhiệm cao nêu ra phương hướng, giải pháp để phát huy vai trò của doanh nghiệp trong nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Rất cảm ơn các vị đại biểu, các vị khách quý đã đến tham dự tọa đàm do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức hôm nay. Chúng tôi mong rằng với những tâm huyết đó với đất nước, với doanh nghiệp, chúng ta sẽ có một buổi tọa đàm ý nghĩa, bổ ích, thêm nhiều thông tin, nhiều gợi mở, chia sẻ để góp vào tinh thần chiến lược quốc gia trong phát triển bền vững và trong tâm thế mới của Việt Nam. Chúng ta có cái thế, cách nhìn mới bình tĩnh nhưng không kém phần khẩn trương trong hội nhập quốc tế. Với tinh thần đó, xin kính chúc sức khỏe các vị đại biểu, chúc buổi tọa đàm của thành công tốt đẹp.
Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia
Biên tập viên Phạm Thúy: Doanh nghiệp là lực lượng chủ chốt, cấu thành nền kinh tế quốc gia, do đó năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia liên quan mật thiết với nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Thưa TS. Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược phát triển, ông có thể làm rõ mối liên quan mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau này?
TS. Lưu Bích Hồ: Tôi nghĩ chúng ta cần làm rõ hơn những khái niệm cơ bản, quan trọng về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh nói chung của đất nước bao gồm cả năng lực cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành, doanh nghiệp, sản phẩm. Đó là điều có ý nghĩa sống còn của doanh nghiệp, lẽ sống của doanh nghiệp khi mình đi theo phát triển kinh tế thị trường.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-3
 TS. Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược phát triển.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới, năng lực cạnh tranh là cách thức các nước tạo điều kiện tốt nhất về phát triển kinh tế, xã hội môi trường để phát triển kinh tế, đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này: chính sách, thể chế, các yếu tố quyết định năng suất. Như vậy, theo dõi những yếu tố quan trọng giúp một nền kinh tế có năng suất cao và so sánh thành quả của mỗi quốc gia với chuẩn mực quốc tế và các nước khác. Vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia được đo bằng năng suất sử dụng lao động va tài nguyên thiên nhiên, cần nhấn mạnh rằng, năng suất của công nghiệp nội địa chứ không chỉ là công nghiệp xuất khẩu vai trò cơ bản đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Diễn đàn kinh tế thế giới khi đánh giá năng lực cạnh tranh xét trên những yếu tố và những tiêu chí sau với 12 trụ cột: thể chế; cơ sở hạ tầng; môi trường kinh tế vĩ mô; y tế và giáo dục phổ thông, giáo dục và đào tạo đại học; hiệu quả thị trường hàng hóa; hiệu quả thị trường lao động; phát triển thị trường tài chính; sẵn sàng về công nghệ; quy mô thị trường; mức độ tinh vi của các hoạt động kinh doanh; đổi mới sáng tạo.
Trong 12 trụ cột này thì không có trụ cột nào không có mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Đây là năng lực cạnh tranh quốc gia nhưng trong từng yếu tố đó đều có doanh nghiệp trong đó. Nhà nước xây dựng thể chế nhưng doanh nghiệp thực hiện thể chế, đồng hành với thể chế như là một chủ thể để thực hiện thể chế đó. Do đó, những gì tạo ra sự cạnh tranh quốc gia, xuất phát nền tảng của nó doanh nghiệp.
Nói đến tiêu chí cạnh tranh của doanh nghiệp, về định lượng được xác định bởi:
Một là tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp và doanh thu. Hai là, lợi nhuận trên vốn. Ba là, tỷ lệ hoàn vốn. Bốn, năng suất lao động tính chung trong doanh nghiệp và của từng người lao động trong doanh nghiệp. Năm, tốc độ đổi mới công nghệ. Sáu, giá thành sản phẩm. Bảy, thị phần mà doanh nghiệp đó chiếm lĩnh được, kiểm soát được kênh phân phối và dịch vụ bán hàng.
Về mặt định tính dựa trên tiêu chí: Một là chất lượng của sản phẩn và chất lượng của nguồn nhân lực. Hai, trình độ công nghệ và các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Ba, thương hiệu uy tín của doanh nghiệp. Bốn, tác động của hoạt động doanh nghiệp với xã hội trước hết là an sinh xã hội và bảo vệ môi trường. Qua đó, càng thấy rõ hơn mối quan hệ giữ cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp. Ở trong từng doanh nghiệp, ở trong từng lĩnh vực một có từng tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể nhưng có mấy chục tiêu chí cộng lại thì mới ra tổng thể năng lực cạnh tranh.
Biên tập viên Phạm Thúy: Thưa ông Hoàng Quang Phòng, VCCI là tổ chức quốc gia, tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam. Vậy thì góc nhìn của ông về mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh quốc gia có gì tương đồng và khác biệt so với TS. Lưu Bích Hồ hay không?
Ông Hoàng Quang Phòng: Tôi hoàn toàn đồng ý và nhất trí với quan điểm của TS. Lưu Bích Hồ vừa nêu dưới góc nhìn của một nhà khoa học và phân tích những yếu tố đó. Tuy nhiên, doanh nghiệp đơn giản hơn những điều chúng ta vừa nghe, vì cạnh tranh quốc gia gắn với cạnh tranh của doanh nghiệp. Mà doanh nghiệp khỏe sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, giải quyết được vấn đề kinh tế, vấn đề an sinh xã hội và khỏa lấp được những điều TS. Lưu Bích Hồ vừa nêu và đáp ứng được yêu cầu của phát triển doanh nghiệp và phát triển kinh tế đất nước.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-4
Ông Hoàng Quang Phòng, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. 
Đối với doanh nghiệp, doanh nhân, họ quan niệm phát triển bền vững của doanh nghiệp là sản phẩm làm ra có giá, có lợi nhuận sau thuế cao, đời sống của người lao động trong doanh nghiệp được cải thiện và có mối quan hệ trong lao động hài hòa trong doanh nghiệp, để người sử dụng lao động và người lao động an tâm phấn đấu vì sự phát triển của doanh nghiệp mình. Có một yếu tố rất quan trọng là tạo điều kiện về mặt chính sách để doanh nghiệp thực thi những chính sách phát triển doanh nghiệp từ phía cơ quan quản lý là cơ quan Nhà nước trên tinh thần đối thoại, hợp tác vì sự phát triển của doanh nghiệp thì sẽ tạo tiền đề phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Giải quyết được việc đó, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tự tin tiến những bước phát triển mới.
Trong thực tế những năm qua, chúng ta đã có một bước phát triển tương đối ngoạn mục, số doanh nghiệp thành lập ngày càng nhiều và chúng ta cũng có những doanh nghiệp các khu vực được đánh giá rất tích cực và có đủ sức cạnh tranh thương trường quốc tế, thậm chí có những chủ doanh nghiệp làm Chủ tịch Hội đồng quản trị của một liên doanh quốc tế. Nhưng tiếc rằng số đó chưa nhiều. Doanh nghiệp của chúng ta đa phần doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm đến 96 – 97%. Những đối tượng này rất dễ bị tổn thương, bất kỳ sự thay đổi chính sách nào cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của họ. Số lượng doanh nghiệp thành lập đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp Startup, nên tạo ra số lượng việc làm nhiều nhưng việc làm đó không ổn định. Vì thế, chính sách hỗ trợ làm sao để doanh nghiệp ổn định hoạt động và duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó là việc nhà quản lý cần quan tâm, hỗ trợ họ, chỉ có như vậy mới giữ được số lượng doanh nghiệp chúng ta đang có và phát triển thêm các doanh nghiệp mới, tạo được việc làm bảo đảm cho cho người lao động, các doanh nghiệp hoàn thành được nghĩa vụ thuế và khỏa lấp được những vấn đề về môi trường, an sinh xã hội... như TS Lưu Bích Hồ vừa nêu. Tôi nghĩ rằng, nếu làm được như thế thì chúng ta sẽ có được đội ngũ doanh nghiệp có thể cạnh tranh, nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Biên tập viên Phạm Thúy: Thưa ông Nguyễn Đức Kiên, trải qua 3 nhiệm kỳ Quốc hội, từ góc độ của một nhà lập pháp, hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, ông nhìn nhận như thế nào về mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia?
Ông Nguyễn Đức Kiên: Về cơ bản tôi tán thành với những vấn đề TS. Lưu Bích Hồ và ông Nguyễn Quang Phòng đã nêu ra. Nhưng với tư cách là người công tác nhiều năm trong cơ quan lập pháp tôi xin trao đổi thêm.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-5
 Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội.    
Năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm cả hai phần là phần của kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô. Với góc độ của người làm công tác lập pháp, tôi thiên về chính sách vĩ mô nhiều hơn. Như chúng ta biết, để hình thành chính sách vĩ mô như trong bộ tiêu chí TS Lưu Bích Hồ đã giới thiệu sẽ gồm hai phần chính là cơ sở hạ tầng xã hội và một phần là các thể chế kinh tế.
Phần cơ sở hạ tầng xã hội có thể được đo lường bằng ba nhóm vấn đề lớn:
Thứ nhất, nhóm vấn đề về nguồn nhân lực, về con người.
Thứ hai, thể chế - tức là những quy định vận hành của ngành kinh tế.
Thứ ba, hệ thống pháp lý.
Đối với kinh tế vĩ mô cũng không có gì ngoài ba chân kiềng:
Thứ nhất, chính sách tiền tệ.
Thứ hai, chính sách tài khóa.
Thứ ba, chính sách cơ cấu, tổ chức ưu tiên ngành nghề, lĩnh vực nào để phát triển cho phù hợp với năng lực quốc gia.
Như vậy chúng ta phải xác định ở thời điểm hiện nay Việt Nam đang đứng ở đâu trong chuỗi phát triển năng lực cạnh tranh ấy. Nếu người ta nói chia chu kỳ thì hiện nay chúng ta có thể chia làm ba nhóm các quốc gia: Nhóm quốc gia đầu tiên là nhóm quốc gia đạt được sự tăng trưởng về cạnh tranh, về năng lực cạnh tranh, về phát triển thịnh vượng dựa vào yếu tố đầu vào như chúng ta hay nói một cách rất cụ thể là về đầu tư vòng vốn, về lao động giá rẻ và tài nguyên thiên nhiên. Nhóm thứ hai là nhóm ở trình độ các nước đang phát triển và nó đã vươn cao hơn ở mức là đã tính đến hiệu quả của việc sử dụng vốn, tính đến hiệu quả của nguồn nhân lực, tính đến hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên.
Trong văn kiện của Hội nghị Trung ương 3, Khóa XI, tái cơ cấu lại nền kinh tế trong đó có ba trụ cột là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu các tổ chức tín dụng. Tức là chúng ta đã tự xác định nền kinh tế của Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ việc sử dụng đầu vào chuyển sang việc nâng cao hiệu quả sử dụng.
Mức cuối cùng là năng lực cạnh tranh thể hiện bằng sự sáng tạo. Sự sáng tạo có thể từ những thứ đơn giản, cũng có thể đòi hỏi khoa học công nghệ rất cao. Từ quan niệm như vậy, đa phần các ĐBQH Khóa XII – XIII chúng tôi nhận thức được và tập trung hoàn thiện thể chế cho nền kinh tế vận hành. Chúng ta thấy, năm 2011 chúng ta có cương lĩnh 2011, tức là cương lĩnh sửa đổi quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhưng cương lĩnh đó không hiệu quả lắm. Đến 2013 chúng ta chuyển sang Hiến pháp mới - một loạt luật cơ bản được sửa đổi trong 2014, 2015, 2016, 2017… Mới đây nhất đã xong được Luật Cạnh tranh – nó cũng là một xương sống của nền kinh tế thị trường.
Còn một phần quan trọng ở kinh tế vi mô thì tôi xin để các đại biểu trao đổi.
Biên tập viên Phạm Thúy: Xin được hỏi ông Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược NN – PTNT, là chuyên gia chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp ông nhìn nhận giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực này với năng lực cạnh tranh quốc gia như thế nào?
Ông Đặng Kim Sơn: Trong lĩnh vực nông nghiệp, sau 30 năm đổi mới, thành công vĩ đại nhất, rõ rệt là lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn. Mọi người đều công nhận thế mạnh của Việt Nam là nông nghiệp. Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam đã phát triển hết mức hay chưa, người nông dân là người thụ hưởng đúng mức mức độ sản xuất hay chưa.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-6
 TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược NN – PTNT. (Ảnh: Lâm Hiển)
Chúng ta có thể quay trở lại thời điểm năm 2008, Giáo sư Michael E. Porter, Trường Đại học Kinh doanh Harvard (Hoa Kỳ) – bậc thầy về chiến lược cạnh tranh đến thăm Việt Nam và chủ trì cuộc hội thảo quốc tế “Cạnh tranh toàn cầu và lợi thế của Việt Nam”. Giáo sư Michael E. Porter đã nêu một số trọng tâm để đưa Việt Nam phát triển dựa trên nguồn lao động và tài nguyên, đồng thời đưa ra các ưu tiên về cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam như: chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng, cải thiện doanh nghiệp.
Trên lý thuyết, chúng ta có 5 điểm nổi bật: điều kiện sản xuất rất tốt; sức mua của thị trường trong nước lớn; các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ tốt; chiến lược thông tin rõ ràng, minh bạch; cấu trúc cạnh tranh nội địa phải mạnh.
Nếu chiểu theo 5 lợi thế trên vào nền nông nghiệp nước ta, chúng ta có những thuận lợi như điều kiện sản xuất tốt, khí hậu thời tiết tốt, thủy lợi kênh mương rất tốt. Bên cạnh đó, với sức mua trong nước của hơn 90 triệu dân GDP khá cao, tốc độ giảm nghèo ổn định qua từng năm, cùng với đó là 1,5 triệu người thuộc tầng lớp trung lưu bổ sung thêm nhập hàng năm. Chưa kể thị trường các nước bên cạnh.
Tuy nhiên, 3 góc khác của năng lực cạnh tranh không trọn vẹn như thế.
Thứ nhất, ngành công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp đầu vào máy móc, thiết bị, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt phần chế biến đang rất kém. Phần lớn nông sản xuất khẩu của ta đều ở dạng thô, đưa ra nước ngoài qua chế biến gắn mác hàng Việt Nam chất lượng cao. Đặc biệt, có những vùng nông nghiệp rất quan trọng, nổi tiếng như Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long lại không có km đường sắt nào cả, hầu như không có đường cao tốc, điều điều kiện đó làm cản trở sự phát triển của nông nghiệp.
Thứ hai, câu chuyện cấu trúc cạnh tranh, thời gian đầu doanh nghiệp của chúng ta có cạnh tranh không công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Nhưng hiện nay, trong điều kiện hội nhập mạnh mẽ, doanh nghiệp trong nước đang “chới với” để cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài rất vất vả. Vì lẽ đó, doanh nghiệp Việt Nam đã nhỏ rồi lại còn muốn nhỏ hơn, muốn giấu mình mọi thứ, muốn ngắn hạn. Điều này đã ảnh hưởng rất to lớn đến cung cách hoạt động của doanh nghiệp nước ta, tác động xấu đến năng lực cạnh tranh, thậm chí là kéo nhau đi xuống. Vì thế, các doanh nghiệp không hướng về công nghệ, về quan hệ thị trường, không hướng vào cải thiện môi trường, cải thiện quan hệ với người lao động.
Đây là những yếu tố ông Nguyễn Đức Kiên đã nói, tác động từ vĩ mô đến vi mô. Chúng ta cần thay đổi, để thực sự phát huy được năng lực cạnh tranh của nước ta, biến năng lực cạnh tranh của quốc gia thành cạnh tranh của doanh nghiệp.
Biên tập viên Phạm Thúy: Góc nhìn của ông về mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh quốc gia như thế nào, thưa ông Bùi Ngọc Chương?
Ông Bùi Ngọc Chương: Dưới góc độ của Ủy ban Về các vấn đề xã hội thì rào cản nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đang có những điểm hạn chế là nguồn nhân lực. Lao động của ta đa phần thuộc dạng lao động phổ thông, tay nghề không cao; đa số lao động từ khu vực nông thôn đi vào khu công nghiệp làm việc trình độ thấp như giày da, dệt may. Đó là những yếu tố làm cho chất lượng cũng như hiệu quả lao động của doanh nghiệp còn thấp, hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, nhất là trong thời kỳ đang đi vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, với nền kinh tế số hóa rất nhiều ngành nghề, vị trí người lao động có thể mất việc.
Doanh nghiep Viet Nam dang bi nhieu rao can lam giam nang luc canh tranh-Hinh-7
 Ông Bùi Ngọc Chương, Ủy viên thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội
Vì vậy để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tôi thấy về phía nhà nước đang tích cực kiến tạo, xây dựng thể chế về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, để chuyển hướng trong ngành Giáo dục đào tạo cũng như ngành Lao động, Thương binh và Xã hội. Chúng ta đã hoàn thiện Luật Giáo dục nghề nghiệp và tiếp tục sửa đổi theo hướng phân luồng liên thông để học sinh tiếp cận với ngành nghề đào tạo, với trường đào tạo nghề để bổ sung đội ngũ lao động chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, từđó cải thiện nâng cao năng lực cạnh tranh.
Hiện Ủy ban Về các vấn đề xã hội đang giám sát chuyên đề về đưa lao động Việt Nam ra làm việc tại nước ngoài. Qua đó, chúng ta thấy có những tác động tích cực mang lại lợi ích đáng kể cho đất nước cũng như gia đình, bản thân người lao động. Tuy nhiên, chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài của ta đa phần đào tạo chưa có tay nghề cao nên đi vào phân khúc lao động phổ thông như giúp việc gia đình hoặc những ngành nghề tay nghề không cao nên lương thấp. Đó cũng là những yếu tố gây thiệt hại cho người lao động và năng lực cạnh của doanh nghiệp về xuất khẩu lao động của Việt Nam.
Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, những rào cản và thách thức mới
Biên tập viên Phạm Thúy: Như các đại biểu vừa phân tích, trình độ phát triển và sức cạnh tranh của doanh nghiệp chính là một trong những yếu tố nền tảng của năng lực cạnh tranh quốc gia trên bình diện vi mô.
Về phía doanh nghiệp Việt Nam, tuy đã có sự tăng trưởng vượt bậc về số lượng với hơn một triệu doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng năng lực cạnh tranh còn rất nhiều hạn chế.
- Thưa Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Ngọc Bảo, trước khi là một chính khách, ông từng là một doanh nghiệp. Thời điểm ông còn lãnh đạo doanh nghiệp với thời điểm hiện nay, theo ông, còn có những rào cản cũ nào đối với doanh nghiệp chậm được tháo gỡ? Và điều này tác động thế nào đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay?
Ông Nguyễn Ngọc Bảo: Vừa rồi đã có nhiều ý kiến chia sẻ về các kinh nghiệm, phân tích định hướng, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời đưa ra những mục tiêu, thách thức để cải thiện năng lực canh tranh quốc gia. Đảng, Nhà nước đã hết sức quan tâm về xây dựng chiến lược, môi trường cạnh tranh, không chỉ tạo diều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam cạnh tranh trên thị trường nội địa mà còn xây dựng môi trường để các doanh nghiệp nước ngoài có cơ hội đầu tư vào Việt Nam cũng như các doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư ra nước ngoài.
Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng, việc đặt ra các yêu cầu, đòi hỏi cải cách thể chế, cải cách môi trường kinh doanh là nhiệm vụ hết sức bức thiết, cụ thể. Vừa rồi, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 19-2018/NQ-CP về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo, trong đó đặt ra các mục tiêu hết sức cụ thể để làm sao nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đáng chú ý có một số nội dung về các chỉ số đang thấp đều có các mục tiêu hết sức cụ thể: Việc kinh doanh tăng 40 bậc; giải quyết tranh chấp hợp đồng tăng 10 bậc; giải quyết phá sản doanh nghiệp tăng 10 bậc… trong đó có đặt ra mục tiêu CCHC như thế nào, xây dựng Chính phủ điện tử để đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cũng như hành lang, môi trường cho doanh nghiệp phát triển.
Quốc hội vừa qua đã thông qua Luật Cạnh tranh (sửa đổi), trong dự luật lần này có rất nhiều điểm mới, tạo điều kiện cơ sở để có được hành lang pháp lý, tạo một sân chơi hết sức bình đẳng. Đồng thời có những chế tài, cơ chế xử lý đối với doanh nghiệp để tạo ra một môi trường phát triển. Phạm vi điều chỉnh không chỉ của dự án luật, luật được thông qua không chỉ đối với phạm vi trong nước mà còn để xử lý các vụ việc xảy ra ở nước ngoài có tác động đến hạn chế năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Trong dự thảo luật đã xây dựng được các mô hình, tổ chức cơ quan, ủy ban cạnh tranh quốc gia với vị thế hết sức độc lập, đồng thời có địa vị pháp lý cao để có thể xử lý các vụ việc cạnh tranh một các độc lập. Trên cơ sở đó, giải quyết được các tồn tại, những nội dung vấn đề cho việc hạn chế cạnh tranh trong thời gian vừa qua trong các vấn đề tranh chấp thương mại và hạn chế cạnh tranh. Tôi thấy đó là những bước đi hết sức cụ thể của Nhà nước trong nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như xây dựng môi trường cạnh tranh hết sức bình đẳng và đầy cơ hội phát triển cho Việt Nam.
Biên tập viên Phạm Thúy: Thưa ông Đặng Kim Sơn, theo ông năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tham gia của doanh nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp vào sự phát triển của nông nghiệp như thế nào. Hướng đi đã được xác định rất là rõ đối với nông sản Việt Nam, đấy là xuất khẩu. Vậy thì doanh nghiệp nông sản, doanh nghiệp nông nghiệp tham gia vào việc đó có khó khăn thách thức như thế nào?
Ông Đặng Kim Sơn: Một điều rất thú vị là nếu so sánh giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thì bất ngờ là nông nghiệp hướng thẳng ra xuất khẩu. Từ câu chuyện thiếu ăn, lo ăn từng bữa, phải đi từ nhập khẩu, diện tích canh tác manh mún nhất trên thế giới (trung bình 0,5 ha cho một hộ, một hộ gia đình có đến 5 - 7 mảnh ruộng canh tác), cơ sở hạ tầng lạc hậu, khoa học công nghệ yếu kém, nhưng đi thẳng ra xuất khẩu. Là ngành xuất khẩu chủ lực, 36 - 37 tỷ USD/năm tiến đến là 40 tỷ USD/năm.
Đột phá đầu tiên là doanh nghiệp thủy sản chế biến, dám chấp nhận áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm, thay đổi nhà máy, thu mua nguyên liệu hay thậm chí nhà nhập nguyên liệu. Theo gương đó, các doanh nghiệp chế biến tiêu, điều, lúa gạo, gỗ… cũng phát triển rất mạnh. Trong khi đó, doanh nghiệp lớn nhà nước đầu tư từ nông trường quốc doanh, cho đến nhà máy. Ví dụ, cà phê, dâu tằm, cao su thì thất bại cả từ sản xuất đến chế biến.
TH true milk là một trong những doanh nghiệp tiến thẳng ra nước ngoài mà có thị trường mở ổn định. Doanh nghiệp Việt Nam vươn ra thị trường, gắn với chuỗi giá trị toàn cầu, áp dụng công nghệ, dây chuyền bên ngoài, áp dụng các tiêu chuẩn khắt khe ở những thị trường khó tính, bước một xây dựng thương hiệu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công to lớn thì chúng ta cũng phải đối mặt với một thực tế khác là “thua ngay trên sân nhà”. Tại sao lại mâu thuẫn như thế?
Thứ nhất, khó khăn lớn nhất chính là đất đai. Các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp sợ nhất là không có đất để mở doanh nghiệp, không có đất để mở nhà máy, không thể liên kết được nhiều hộ nông dân có diện tích đất nhỏ lẻ.
Thứ hai, là về lao động. Chúng ta nói về năng lực người lao động, tác phong lao động, đa số các lao động làm trong nhà máy xí nghiệp, các doanh nghiệp là lao động thời vụ không được đăng ký, không có hợp đồng, không được đóng bảo hiểm. Họ không thể đầu tư để nâng cao trình độ, không có ý thức phấn đấu hết mình.
Thứ ba, doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn nghiêm trọng, trong đó có vốn đầu tư trung hạn, đầu tư dài hạn ngay cả vốn ngắn hạn còn thiếu. Các doanh nghiệp nhỏ thường không có tài sản gì để thế chấp ngoài diện tích đất dự định đầu tư sản xuất. Tuy nhiên thế chấp tài sản như nhà màng, nhà lưới… lại không được ngân hàng chấp nhận.
Thứ tư, 90% công nghệ hiện nay vẫn do viện, trường quản lý, trong khi tất cả các ngành khoa học đã xã hội hóa rồi. Các công trình khoa học theo kiểu quản lý, lập kế hoạch, đánh giá đề tài đều cho Hội đồng khoa học chứ không phải cho doanh nhân, nông dân chưa quan hệ cung cầu, khách hàng.
Thứ năm, chính là thiếu thông tin. Tại sao nông dân chặt cây này, trồng cây kia chạy theo cung cầu ngắn hạn của thị trường, bởi vì không có cơ quan nghiên cứu thông tin dài hạn, không có thông tin dài hạn cho người nông dân. Thay vì việc phải đi giải cứu nông sản hàng năm, chúng ta đầu tư phải vào thị trường, hệ thống chuỗi giá trị.
Cuối cùng là các dịch vụ nhà nước, chúng ta có rất nhiều dịch vụ công phục vụ đầu vào như khuyến nông thủy lợi, tăng sản xuất mở rộng sản xuất, thay vì phát triển thị trường mở rộng thị trường bảo vệ quyền lợi người nông dân trong thời kỳ cơ chế thị tường. Nếu làm được như thế ta đủ sức cạnh tranh doanh nghiệp chúng ta trong nông nghiệp trên thị trường.
Biên tập viên Phạm Thúy: Thưa ông Ngọ Duy Hiểu, mới đây Hội đồng Tiền lương quốc gia đã thống nhất đề xuất tăng lương tối thiểu vùng năm 2019 thêm 5,8%. Có ý kiến cho rằng, việc tăng lương như vậy cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Từ góc độ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, ý kiến của ông như thế nào?
Ông Ngọ Duy Hiểu: Nhiều người thừa nhận, năng suất lao động ở Việt Nam đang ở mức rất thấp, thậm chí có nguy cơ thấp hơn cả Lào và Campuchia. Đây là vấn đề mà chúng ta cần phải suy nghĩ. Tất nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận một cách tổng thể vì con người Việt Nam vốn được đánh giá thông minh, cần cù. Khi họ sang làm việc tại Nhật hay Singapore thì năng suất cao hơn, thu nhập cao hơn. Ở đây có yếu tố môi trường lao động, quản trị doanh nghiệp, công nghệ… Tóm lại có nhiều yếu tố cần được quan tâm nhìn nhận về năng suất. Bởi cùng con người ấy trong môi trường làm việc ở Việt Nam thì ý thức kỷ luật lao động không cao so với ở môi trường lao động khác.
Chúng tôi vừa sang làm việc ở Malaysa nơi có rất nhiều lao động Việt Nam. Chúng tôi thấy họ làm việc ở đây chấp nhận áp lực rất cao, làm việc nghiêm túc và luôn ý thức được rằng phải hoàn thành nhiệm vụ mới được nghỉ ngơi, trong khi nếu ở trong nước họ có thể chơi, lấy điện thoại ra giải trí ngay trong giờ làm việc. Cho nên tôi nghĩ trong những nhiệm vụ mà cả nước chúng ta cùng nỗ lực thì tổ chức công đoàn phải có nỗ lực riêng là nâng cao ý thức cho người lao động về tinh thần, thái độ làm việc, kỷ luật lao động và trách nhiệm của mình đối với công việc và doanh nghiệp.
Biên tập viên Phạm Thúy: Thưa ông Hoàng Quang Phòng, chắc chắn ông là người tường tận nhất những rào cản và khó khăn của doanh nghiệp trong việc cải thiện năng lực cạnh tranh. Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về điều này?
Ông Hoàng Quang Phòng: Yếu tố cản trở năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp hiện tại một phần do môi trường kinh doanh và một phần do nội tại doanh nghiệp như các đại biểu vừa nêu, tức là năng lực quản trị của doanh nghiệp. Hiện nay, chúng tôi và các cơ quan chức đã có các chương trình đào tạo và đào tạo lại cho doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp, yêu cầu họ tái cơ cấu lại doanh nghiệp của mình, khu chú về lĩnh vực kinh doanh cốt lõi là thế mạnh của mình. Nhưng cũng có lỗi của nhà quản lý, lẽ ra phải cấp phép, cân đối vùng này, vùng nguyên liệu nơi này, chứ không nhất thiết một nhà máy, một công ty mà quan trọng phải làm như thế nào cho hợp lý…
Tôi kiến nghị có những giải pháp đối với doanh nghiệp, như đào tạo, đào tạo lại môi trường, pháp luật kinh doanh, phát triển thị trường, liên kết giữa các khỏa lấp liên kết, có phân chuỗi thì mới tạo ra được nguồn sản phẩm tốt, bán được, tạo năng suất, điều kiện có lợi.
Và như anh Kiên nói nhiều về trách nhiệm xã hội, nói thế thôi chứ bây giờ doanh nghiệp họ cũng ý thức được trách nhiệm xã hội của mình. Quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động chưa bao giờ tốt như thời nay và chủ doanh nghiệp rất quan tâm đến người lao động để xử lý, giải quyết được những vấn đề mà doanh nghiệp phải đặt ra.
Các bạn hình dung xem, nếu hợp đồng ký rồi mà không có người làm thì doanh nghiệp sẽ không bảo đảm đơn hàng, mà không bảo đảm đơn hàng thì sẽ bị phạt (nếu như có yếu tố nước ngoài, yếu tố quan hệ quốc tế). Cho nên, cần có sự liên kết, sự quan tâm tương hỗ, hỗ trợ lẫn nhau. Cái này chúng tôi dùng từ “doanh chí, công nhân chí” đã được cải thiện. Tuy nhiên, cần có sự tuyên truyền, đóng góp tích cực của các cơ quan chức năng để chúng ta có thể xử lý được điểm nghẽn trong sự phát triển doanh nghiệp, kìm hãm sự cạnh tranh của doanh nghiệp.
Biên tập viên Phạm Thúy: Hiện nay một số doanh nghiệp tư nhân trong nước đã và đang vươn ra biển lớn, cạnh tranh với các thương hiệu đa quốc gia có bề dày hàng trăm năm ở thị trường nước ngoài. Thưa ông Nguyễn Đức Kiên, theo ông doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với những khó khăn gì?
Ông Nguyễn Đức KiênHiện nay, khi ra biển lớn, hội nhập doanh nghiệp Việt Nam bị 5 nhóm thách thức. Một là chiến lược kinh doanh không rõ ràng. Hai là công nghệ khoa học của doanh nghiệp trong nước so với thế giới ở mức sau doanh nghiệp nước ngoài 2 đến 3 thế hệ. Về năng lực, chúng ta thấy người Việt Nam vào môi trường công nghiệp thì họ thành công nhân chuyên nghiệp, nhưng ở Việt Nam thì lại vẫn mang thói quen sản xuất nhỏ. Thứ tư, chế độ đãi ngộ của những người làm trong doanh nghiệp là có vấn đề. Việc này lỗi ở những người làm công tác vĩ mô, nhìn người quản trị doanh nghiệp bằng như là công chức trong khi ở các nước khác người ta chỉ nhìn vào hiệu quả sử dụng đồng vốn. Cuối cùng là, sự liên kết để sản xuất cạnh tranh với các nước khác rất kém.
Nhìn riêng vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, có nhiều doanh nghiệp của ta hội nhập tương đối tốt như Vietjet, Vingroup, Hòa Phát, Tân Hiệp Phát… Để thành công họ đều có sự chuẩn bị nội lực kỹ càng, biết người biết ta. Ví dụ như tập đoàn nước uống Tân Hiệp Phát, khởi nghiệp trong thời kỳ đổi mới, thành công ngày hôm nay là nhờ họ chọn được thị trường đúng, đi vào thị trường từ trước đến nay đang bỏ ngỏ và có thị phần để mở rộng. Đây là thành công đầu tiên của họ. Yếu tố thứ hai giúp họ trở thành doanh nghiệp đầu đàn trong lĩnh vực đồ uống là đi thẳng vào công nghệ hiện đại ngay. Công nghệ sản xuất của họ trình độ tương đương với các nước tiên tiến. Thứ ba, họ biết họ yếu ở đâu. Nhiều doanh nghiệp vẫn theo đuổi mô hình quản trị gia đình, hoặc cho rằng trong nước cũng có nhiều người có thể đảm nhận việc quản trị doanh nghiệp, nhưng Tân Hiệp Phát chọn nhân sự cấp cao nước ngoài để quản trị doanh nghiệp của mình. Đây cũng là một trong những yếu tố giúp họ chuyển mình thành công.
Tuy nhiên, tôi cũng lưu ý rằng doanh nghiệp cần tạo dựng thương hiệu trên cơ sở trách nhiệm xã hội.
Chính phủ, doanh nghiệp cần làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh
Với những thách thức, rào cản có thể làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam vừa được các đại biểu phân tích làm rõ thì những nhiệm vụ đặt ra đối với Chính phủ trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh là vô cùng thách thức. Tương tự, doanh nghiệp cũng phải nỗ lực nhiều hơn, tự thân vận động nhiều hơn trong việc nâng sức cạnh tranh của mình.
Biên tập viên Phạm Thúy: Mới đây Hội đồng Tiền lương quốc gia đã thống nhất đề xuất tăng lương tối thiểu vùng năm 2019 thêm 5,8%. Có ý kiến cho rằng, việc tăng lương như vậy cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của doanh nghiệp, ý kiến của ông thế nào, thưa ông Ngọ Duy Hiểu?
Ông Ngọ Duy Hiểu: Hội đồng Tiền lương sau 3 vòng tranh luận khá là căng thẳng, cuối cùng cũng đi đến con số được biểu quyết là 5,3%. Cả giới bảo vệ doanh nghiệp và giới bảo vệ người lao động đều có những cách nhìn khác nhau nhưng đều đi đến thống nhất việc tăng lương, bởi chúng ta đều hiểu rằng tăng lương ở mức nào sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh? Ảnh hưởng theo hướng tích cực hay tiêu cực?
Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 7,08% và được đánh giá là cao nhất trong 7 năm trở lại đây. Trong đó phải ghi nhận đóng góp của người lao động. Thứ hai là chỉ số tiêu dùng (CPI) trong năm nay dự kiến là 4%. Mục tiêu Nghị quyết 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương đặt ra từ nay đến 2020 mức lương tối thiểu phải đáp ứng được cuộc sống tối thiểu của người lao động. Hiện nay mức lương tối thiểu mới chỉ đáp ứng 92% nhu cầu sống tối thiểu. Người lao động làm ra thành quả của mình, vì vậy họ xứng đáng được hưởng. Thứ nữa, CPI tăng thì Nhà nước phải có giải pháp. Ngoài ra, ở khu vực công vừa rồi tăng lương với mức tăng là 6,72%. Như vậy, rõ ràng căn cứ tăng lương là rất đầy đủ.
Trên thực tế, nếu tăng lương ở mức độ phù hợp sẽ vừa bảo đảm cho doanh nghiệp phát triển, đồng thời tạo động lực quan trọng để người lao động đóng góp cho doanh nghiệp. Chúng ta thấy những thông tin tốt về xu hướng phát triển của doanh nghiệp, thông tin tốt về môi trường cạnh tranh, thông tin tốt về thành quả của doanh nghiệp mà Thủ tướng công bố ở mức tăng cao nhất trong 7 năm trở lại đây, nếu người lao động không được chia sẻ chắc chắn sẽ tác động tới tâm tư, tình cảm của họ. Do vậy, với mức tăng lương lương tối thiểu vùng là 5,3% - ở góc độ công đoàn chúng tôi hoàn toàn chưa thỏa mãn, bởi lúc đầu chúng tôi đặt ra là tăng 8% và sẽ theo đuổi đặt mục tiêu phải tăng 7%. Tuy nhiên, chúng tôi cũng chưa biết chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc sẽ đi đến đâu, chúng tôi lường trước được là sẽ có những khó khăn đối với doanh nghiệp. Trong yêu cầu chung, chúng tôi xác định phải cùng chia sẻ với doanh nghiệp để doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Do vậy, chúng tôi quyết định mức tăng này bởi thể hiện sự chia sẻ của người lao động với doanh nghiệp, coi như hai bên cùng thắng để doanh nghiệp phát triển và qua đó làm tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Biên tập viên Phạm Thúy: Có nhiều cách để doanh nghiệp trong nước có thể tiếp cận với thị trường khu vực và thế giới. Một số doanh nghiệp bằng cách kể câu chuyện quá trình hình thành thương hiệu của mình để khơi gợi sự quan tâm của người tiêu dùng. Thưa ông Lưu Bích Hồ, ông nhận xét như thế nào về cách thức tiếp cận như vậy? Chiến lược như vậy giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường như thế nào?
Ông Lưu Bích Hồ: Trong hội nhập quốc tế có cả khó khăn, thuận lợi, tôi cho rằng các doanh nghiệp lớn và nhỏ đều cần đánh giá lại mình.
Thứ nhất, nghiên cứu trong cách tiếp cận sản xuất kinh doanh của mình đang đứng trước những vấn đề gì, vướng mắc ở đâu, đây là vấn đề đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải làm.
Thứ hai, doanh nghiệp nhìn ra thị trường nước ngoài, nghiên cứu lại những vấn đề thị trường của doanh nghiệp.
Thứ ba, chiến lược của doanh nghiệp là thế nào, muốn phát triển được thì chủ doanh nghiệp phải có chiến lược thật tốt. Điều đó là rất quan trọng, cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện mới, phải hướng vào những ngành có lợi thế, tránh sự đầu cơ, chộp giật.
Thứ tư, doanh nghiệp cần đặt mình trong chuỗi giá trị như thế nào.
Thứ năm, lo vốn như thế nào cho hợp lý, cần có nội lực như thế nào, vốn của mình và vốn đi vay như thế nào.
Thứ sáu, chúng ta nói nhiều về công nghệ, công nghệ 4.0, cần xem tài sản không phải bằng vốn, vật chất mà vốn trí tuệ, vốn vô hình. Chúng ta mới nặng về vốn hữu hình. Công nghệ 4.0 nói nhiều nhưng làm thế nào thì doanh nghiệp còn lúng túng.
Thứ bảy, hoàn thiện và cải cách quản trị của mình, quản trị của chúng ta hiện thua xa các nước. Cần tiến tới, kỹ năng quản trị của các nước, cần thể hiện vai trò của chủ doanh nghiệp.
Thứ tám, nhân lực chất lượng cao là điều quan trọng nhất. Đặc biệt là nhân lực quản lý, người lao động và kỹ thuật. Doanh nghiệp tự mình đào tạo nhân lực, dựa vào nhà nước, nhà trường chỉ một phần thôi.
Thứ chín, phải maketing tốt, nếu không làm tốt vấn đề này thì coi như không làm được gì cả. Có sản phẩm nhưng không tiêu thụ được, ra thị trường thế giới càng quan trọng. Sản phẩm phải giải cứu chắc chắn do maketting chưa thực hiện tốt.
Thứ mười, là vấn đề thương hiệu. Uy tín và thương hiệu trong thời đại ngày nay rất quan trọng. Có một số doanh nghiệp rất hăng hái như Tân Hiệp Phát, đã in sách để quảng bá ra thị trường thế giới nơi có sản phẩm của mình. Đó cũng là cách để làm thương hiệu. Tất nhiên, phải “ hữu xạ tự nhiên hương”, doanh nghiệp phải lấy được sự tín nhiệm của người tiêu dùng thì doanh nghiệp mới có thương hiệu.
Cuối cùng, doanh nghiệp phải học hỏi, luôn luôn làm mới mình, phải sáng tạo. Tinh thần doanh nhân, văn hóa doanh nghiệp, tinh thần khởi nghiệp thật “thấm” trong đội ngũ doanh nhân, đội ngũ doanh nghiệp của chúng ta. Đã đến lúc doanh nghiệp cần phải tự mình vươn lên bằng tinh thần đó. Từng doanh nghiệp có cách đi khác nhau, không có cách nào chung cho tất cả các doanh nghiệp.
PGS. TS Đỗ Chí Nghĩa, Tổng biên tập Báo Đại biểu nhân dân phát biểu kết thúc tọa đàm
Kính thưa các quý vị đại biểu, các vị khách quý, các phóng viên báo đài!
Buổi toạ đàm ngày hôm nay trong phạm vi rất vừa phải nhưng các ý kiến rất chất lượng, đề cập đến nhiều vấn đề. Các vị đại biểu ở nhiều lĩnh vực công tác khác nhau, với những lĩnh vực đồng hành cùng doanh nghiệp đã mang kinh nghiệm, đóng góp ý kiến tâm huyết với khát vọng đau đáu đưa đất nước phát triển.
Chúng tôi rất vui buổi tọa đàm hôm nay có đại diện những nhà lập pháp – Đại biểu Quốc hội, đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, đại diện cho người lao động, các chuyên gia – những người mà nghe đến tên thôi đã tạo sự tin cậy, họ có những nghiên cứu chuyên sâu nhưng cũng gắn với thực tiễn.
Chúng tôi nghĩ rằng, bạn đọc, trong đó có cộng đồng doanh nghiệp theo dõi buổi tọa đàm hôm nay sẽ thấy rằng họ được tiếp thêm niềm tin mình không hề đơn độc trong sự phát triển, vươn lên để việc gánh vác sứ mệnh đem thương hiệu đất nước, sức mạnh của đất nước vươn ra thế giới.
Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các vị đại biểu, các vị khách quý đã tham gia buổi tọa đàm.
Kính chúc các vị đại biểu, các vị khách quý sức khỏe và luôn đồng hành cùng Báo ĐBND để cùng hỗ trợ, thúc đẩy cộng đồng doanh nghiệp phát triển.
Mạnh Hưng

>> xem thêm

Bình luận(0)