Tự ý dùng thuốc kháng nấm, người bệnh có thể đối mặt nhiều nguy cơ

Tự mua, đổi hoặc tăng liều thuốc kháng nấm có thể khiến điều trị thất bại, tăng độc tính và thúc đẩy tình trạng nấm kháng thuốc.

Tự ý dùng thuốc đối mặt nhiều nguy cơ

Nhiều người cho rằng khi đã xác định được loại nấm gây bệnh, chỉ cần mua thuốc kháng nấm tương ứng là có thể điều trị. Không ít trường hợp còn tự tăng liều với suy nghĩ dùng thuốc càng mạnh, nấm càng nhanh bị tiêu diệt.

Tuy nhiên, theo ThS. Đào Thị Kim Nhi, Khoa Vi sinh, Bệnh viện 19-8 cho biết, việc lựa chọn và sử dụng thuốc kháng nấm cần dựa trên nhiều yếu tố, không chỉ tên loài vi nấm.

khang-nam.jpg
Xét nghiệm để chỉ định loại thuốc kháng nấm phù hợp - Ảnh BVCC

Không phải các chủng nấm cùng một loài đều có mức độ đáp ứng giống nhau với thuốc. Vì vậy, dùng sai thuốc, sai liều hoặc phối hợp thuốc không phù hợp có thể làm tăng nguy cơ thất bại điều trị, độc tính trên gan, thận và thúc đẩy tình trạng kháng thuốc.

Ở những bệnh nhân nặng, suy giảm miễn dịch hoặc phải điều trị nội trú kéo dài, nhiễm nấm kháng thuốc còn có thể khiến thời gian điều trị và nằm viện kéo dài, làm tăng chi phí và nguy cơ biến chứng.

MIC giúp bác sĩ đánh giá độ nhạy của nấm

ThS Đào Thị Kim Nhi cho biết, một trong những xét nghiệm được sử dụng để hỗ trợ lựa chọn thuốc là kháng nấm đồ. Kỹ thuật vi pha loãng có thể xác định chỉ số MIC (Minimum Inhibitory Concentration), tức nồng độ tối thiểu của thuốc có khả năng ức chế sự phát triển của vi nấm.

Kết quả MIC sau đó được phiên giải theo các tiêu chuẩn quốc tế như CLSI hoặc EUCAST để đánh giá chủng nấm có còn nhạy cảm hay đã đề kháng với thuốc. Đây là cơ sở giúp bác sĩ lâm sàng cân nhắc lựa chọn thuốc và điều chỉnh điều trị khi người bệnh không đáp ứng.

khang-nam-1.jpg
Bác sĩ thực hiện xét nghiệm - Ảnh BVCC

Tuy nhiên, MIC không phải là “liều thuốc” dành cho bệnh nhân. Đây là một chỉ số được xác định trong phòng xét nghiệm. Liều thuốc thực tế được bác sĩ quyết định dựa trên tổng thể tình trạng người bệnh, trong đó có vị trí nhiễm nấm, tình trạng miễn dịch, chức năng gan - thận, khả năng thuốc thấm vào mô và các tương tác thuốc có thể xảy ra.

Do đó, một kết quả MIC không thể được sử dụng riêng lẻ để người bệnh tự tính liều hoặc tự mua thuốc điều trị.

Không nên tự tăng liều để “diệt nấm nhanh hơn”

Theo ThS Đào Thị Kim Nhi, việc điều trị nhiễm nấm cần kết hợp xác định đúng loài nấm, đánh giá độ nhạy cảm với thuốc và xem xét bối cảnh lâm sàng của từng bệnh nhân. Đây cũng là cơ sở để sử dụng thuốc hợp lý, hạn chế những thuốc không cần thiết và giảm nguy cơ tác dụng không mong muốn trên các cơ quan.

Kháng nấm đồ và kết quả MIC còn có vai trò trong quản lý sử dụng thuốc kháng vi sinh vật (AMS), góp phần kiểm soát tình trạng kháng thuốc đang ngày càng phức tạp.

khang-nam-2.jpg
Kết quả MIC - Ảnh BVCC

Theo khuyến cáo của chuyên gia Vi sinh, người bệnh không nên tự mua, tự đổi hoặc tự dừng thuốc kháng nấm khi chưa có chỉ định của bác sĩ. Đặc biệt, không tự ý tăng liều với suy nghĩ thuốc càng mạnh thì nấm càng nhanh bị tiêu diệt.

Với người bệnh nặng, suy giảm miễn dịch hoặc điều trị nội trú kéo dài, việc thực hiện các xét nghiệm vi sinh chuyên sâu khi có chỉ định có thể cung cấp thêm căn cứ cho bác sĩ lựa chọn và điều chỉnh phác đồ.

Một chỉ số MIC được thực hiện chính xác và phiên giải đúng không thay thế quyết định điều trị của bác sĩ, nhưng là một dữ liệu quan trọng giúp quá trình lựa chọn thuốc có cơ sở hơn, hướng tới điều trị hiệu quả và an toàn cho người bệnh.

Mời quý độc giả theo dõi video: Hà Nội siết chặt quy định bán trú sau sát nhập trường học để đảm bảo dinh dưỡng cho học sinh

Phẫu thuật thành công nấm xoang bướm xâm lấn nền sọ cho cụ bà 78 tuổi

Đau đầu dữ dội gần 3 tuần không thuyên giảm, cụ bà 78 tuổi được phát hiện nấm xoang bướm xâm lấn nền sọ, chèn ép động mạch cảnh trong và gây nhìn đôi.

Khi nhập viện, bệnh nhân trong tình trạng đau đầu dữ dội, nhìn đôi, nôn ói nhiều, kèm rối loạn điện giải do hạ kali máu và đường huyết chưa được kiểm soát.

Kết quả chụp cộng hưởng từ (MRI) não phát hiện tổn thương nằm trong xoang bướm, lan vào xoang hang và gây hẹp động mạch cảnh trong. Với kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT), các bác sĩ xác định người bệnh bị u nấm xoang bướm đã phá hủy thành xoang và xâm lấn nền sọ.

Đọc nhiều nhất

Tin mới