Thấy gì từ việc VETC, Viettel Money dừng thu phí quản lý tài khoản?

VETC và Viettel Money đều thông báo tạm dừng khoản thu 6.600 đồng/tháng với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng với khách hàng doanh nghiệp.

Sáng 20/8, VETC thông báo tạm dừng triển khai chính sách thu phí dịch vụ quản lý tài khoản ví VETC để xây dựng giải pháp phù hợp hơn. Sau VETC, Viettel Money - đơn vị liên kết ứng dụng thu phí tự động ePass cũng dừng thu phí liên kết tài khoản giao thông với khách hàng.

Từ đầu tháng 8, Ví Viettel Money và Ví VETC áp dụng mức phí 6.600 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng doanh nghiệp có tài khoản ví liên kết với tài khoản giao thông VETC và ePass. Việc thu phí sau đó vấp phải phản ứng của dư luận.

433345.jpg
Ảnh minh họa. Nguồn: Báo Xây dựng

Quyền thu phí không đồng nghĩa với quyền áp đặt phí

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, TS.LS Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho biết, trước tiên cần hiểu rằng khoản phí 6.600 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng doanh nghiệp không phải phí sử dụng đường bộ, cũng không phải là phí BOT. Đây là khoản tiền mà doanh nghiệp cho rằng, dùng để duy trì hệ thống thanh toán, đối soát dữ liệu, bảo mật và vận hành nền tảng.

“Việc xác định đúng bản chất khoản tiền này rất quan trọng bởi nếu là phí, lệ phí nhà nước thì phải có căn cứ pháp luật cụ thể. Còn nếu là giá dịch vụ trong quan hệ dân sự, thương mại nguyên tắc cơ bản là phải dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên”, ông Cường nói.

Theo luật sư Cường, pháp luật không cấm doanh nghiệp cung cấp thêm dịch vụ và thu phí đối với dịch vụ đó. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại, các chủ thể được quyền tự do kinh doanh, tự do thỏa thuận về giá dịch vụ nếu pháp luật không cấm.

Tuy nhiên, quyền thu phí không đồng nghĩa với quyền áp đặt phí. Doanh nghiệp có thể xây dựng một dịch vụ mới, đưa ra mức giá mới nhưng khách hàng phải được biết, được lựa chọn và được quyết định có sử dụng dịch vụ đó hay không. Nếu trước đây khách hàng tham gia giao dịch với điều kiện không có khoản phí này, việc bổ sung thêm nghĩa vụ tài chính cho khách hàng cần phải được thực hiện trên cơ sở phù hợp với hợp đồng, điều kiện giao dịch chung và quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bởi vậy nếu tại thời điểm khách hàng đăng ký sử dụng dịch vụ, hợp đồng hoặc điều kiện giao dịch chung không quy định khoản phí quản lý tài khoản, việc bổ sung khoản phí mới là hành vi thay đổi điều kiện giao dịch.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, doanh nghiệp phải: Thông báo đầy đủ, công khai, minh bạch nội dung thay đổi; Bảo đảm khách hàng có điều kiện tiếp cận thông tin; Dành thời gian hợp lý để khách hàng cân nhắc và cuối cùng là phải tạo cơ chế để khách hàng lựa chọn tiếp tục hoặc chấm dứt sử dụng dịch vụ.

Do đó, nếu doanh nghiệp chỉ đơn phương thay đổi mà không bảo đảm quyền lựa chọn của khách hàng có thể phát sinh tranh chấp về hiệu lực của điều kiện giao dịch mới.

Luật sư Cường nhấn mạnh, thông báo của bên cung cấp dịch vụ về việc thay đổi chính sách, tăng mức phí dịch vụ là quan điểm, ý kiến đơn phương của một bên trong giao dịch, không đồng nghĩa với sự đồng ý. Bản chất của giao dịch dân sự chính là sự thoả thuận giữa các bên để xác lập quyền và nghĩa vụ, bởi vậy nếu một bên đưa ra thỏa thuận hoặc thay đổi nội dung thỏa thuận mà bên kia chưa đồng ý, nội dung đưa ra đó chưa có giá trị để thực hiện.

Về nguyên tắc của pháp luật dân sự, sự đồng ý phải thể hiện ý chí của tất cả các bên chủ thể khi tham gia giao dịch. Khi giao dịch đã được ký kết và thực hiện, việc thay đổi điều khoản phải được các bên thống nhất mới có hiệu lực để thực hiện. Tuy nhiên, trong một số giao dịch điện tử hoặc hợp đồng theo mẫu, nếu điều kiện giao dịch đã quy định rõ rằng khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ sau khi nhận thông báo được xem là chấp thuận nội dung sửa đổi, điều khoản đó có thể được xem xét áp dụng. Vấn đề phải kiểm tra điều khoản này có tồn tại trong hợp đồng hay không; khách hàng có được thông báo đầy đủ hay không; điều khoản đó có vi phạm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hay không.

Bởi vậy, không thể mặc nhiên cho rằng mọi trường hợp khách hàng im lặng đều đồng nghĩa với đồng ý. Việc đánh giá hiệu lực của giao dịch đến đâu, tính hợp pháp về việc bổ sung thêm một loại phí dịch vụ cần phải đối chiếu với quy định của pháp luật, trước tiên là bộ luật dân sự, tiếp tới là giao dịch điện tử, các quy định của pháp luật về phí, lệ phí và các văn bản pháp luật có liên quan.

Nếu doanh nghiệp cho rằng khách hàng có thể hủy liên kết ví điện tử và chuyển sang hình thức thanh toán khác cần xem xét ;phương thức thay thế có thực sự khả dụng hay không; có dễ tiếp cận hay không; có phát sinh chi phí khác hay không; có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ hay không. Nếu phương thức thay thế chỉ mang tính hình thức hoặc gây bất lợi đáng kể cho người tiêu dùng thì cơ quan quản lý cần xem xét kỹ để bảo đảm quyền lựa chọn thực chất của khách hàng.

Vấn đề này cần phải có những nội dung cụ thể, tôn trọng quyền lợi của khách hàng, đưa ra những giải pháp để khách hàng tự do lựa chọn và tự quyết định về việc có sử dụng dịch vụ thanh toán hay không trừ trường hợp nội dung này do pháp luật đã quy định thì mới bắt buộc các bên phải chấp hành.

Thông thường, các đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán thường phải có trách nhiệm đầu tư, xây dựng hạ tầng và sẽ thu phí khi hạ tầng đưa vào kinh doanh, mức phí sẽ có cạnh tranh giữa các đơn vị, trên cơ sở quy định về thuế, phí, về giao dịch điện tử và trên cơ sở cạnh tranh tự do trên thị trường.

Khi Nhà nước thúc đẩy thanh toán điện tử trong giao thông, người dân gần như bắt buộc phải có tài khoản giao thông và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Nếu tất cả hoặc phần lớn các phương thức thanh toán đều phát sinh phí duy trì thì quyền lựa chọn của người tiêu dùng sẽ bị thu hẹp.

Theo ông Cường, ranh giới pháp lý nằm ở chỗ, người dân được quyền lựa chọn giữa nhiều phương thức thanh toán khác nhau; Không nên để xảy ra tình trạng người dân buộc phải sử dụng một phương thức thanh toán có thu phí mà không có giải pháp thay thế hợp lý.

Trong trường hợp thị trường xuất hiện dấu hiệu hạn chế cạnh tranh hoặc làm suy giảm quyền lựa chọn của người tiêu dùng, cơ quan quản lý cần có sự đánh giá, giám sát kịp thời. Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh phải lành mạnh, được kiểm soát bởi nhà nước, những áp đặt trong kinh doanh hoặc những cơ chế độc quyền có thể tạo ra sự bất bình đẳng và bất bình trong xã hội.

Chưa đầy đủ căn cứ pháp lý?

Đề cập việc Ngân hàng Nhà nước cho phép doanh nghiệp hoạt động trung gian thanh toán và ban hành biểu phí, luật sư Đặng Văn Cường nhấn mạnh, việc này không đồng nghĩa với việc mọi khoản phí doanh nghiệp đặt ra đều đương nhiên hợp pháp. Đối với những khoản phí không do Nhà nước quy định, doanh nghiệp phải chứng minh có căn cứ hợp đồng và có sự đồng thuận của khách hàng. Nếu khoản phí được áp dụng theo hướng áp đặt, thiếu sự lựa chọn hoặc không bảo đảm quyền được biết của người tiêu dùng, hoàn toàn có thể phát sinh tranh chấp pháp lý về tính hợp pháp của khoản thu đó.

Cùng với đó, Thông tư 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán không phải là căn cứ pháp lý quy định mức phí 6.600 đồng/tháng đối với tài khoản giao thông. Thông tư này chỉ là cơ sở pháp lý cho phép tổ chức trung gian thanh toán được xây dựng và công khai biểu phí dịch vụ. Còn việc thu khoản phí cụ thể nào, mức bao nhiêu, áp dụng với đối tượng nào và theo phương thức nào phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng, điều kiện giao dịch và bảo đảm quyền được biết, quyền lựa chọn của khách hàng. Vì vậy, viện dẫn Thông tư 40 để khẳng định khoản phí 6.600 đồng/tháng đương nhiên hợp pháp là chưa đầy đủ căn cứ pháp lý.

Đây là khoản phí dịch vụ đi kèm, đơn vị cung cấp dịch vụ cần phải có giải thích rõ ràng cho khách hàng là vì sao khách hàng phải trả khoản tiền này, nếu không trả thì khách hàng có sự lựa chọn nào khác và vì sao lại phải trả mức tiền như vậy. Số tiền đó nhân với lượng khách hàng sử dụng, nhân với thời gian, mỗi tháng số tiền thu được là bao nhiêu, một năm là bao nhiêu? Khoản tiền này là lợi nhuận của đơn vị kinh doanh hay là chi phí? Người tiêu dùng hoàn toàn có quyền yêu cầu doanh nghiệp giải thích cơ sở thu phí. Với những trường hợp khách hàng ít đi lại, thậm chí vài tháng không sử dụng dịch vụ tại sao vẫn phải nộp số tiền này? Đơn vị cung cấp dịch vụ cần giải thích cụ thể về lý do, căn cứ thu phí và cơ sở để tính mức phí thì mới thuyết phục được người tiêu dùng.

Tuy nhiên, doanh nghiệp không nhất thiết phải công khai toàn bộ chi phí nội bộ hoặc bí mật kinh doanh. Về mặt pháp lý, doanh nghiệp cần chứng minh: đây là dịch vụ hợp pháp, pháp luật cho phép đưa ra loại chi phí này; Có nội dung dịch vụ cụ thể, mức phí bao nhiêu, dùng vào việc gì; Có mức giá rõ ràng, có cơ sở để tính phí đối với từng trường; Có thông báo công khai, minh bạch để tìm đến sự đồng thuận của khách hàng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Trong trường hợp có khiếu nại hoặc tranh chấp, cơ quan quản lý nhà nước hoặc cơ quan bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có thể yêu cầu doanh nghiệp cung cấp tài liệu chứng minh cơ sở hình thành dịch vụ và mức giá.

Vấn đề không nằm ở con số 6.600 đồng mỗi tháng mà nằm ở nguyên tắc pháp lý. Vẫn biết rằng số tiền này với một người sẽ không lớn nhưng với nhiều người cộng lại sẽ là một số tiền rất lớn. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở số tiền lớn hay nhỏ mà là cơ sở pháp lý để đơn vị cung cấp dịch vụ tự đưa ra một mức như vậy khiến nhiều người ngỡ ngàng và nhiều người đã không đồng thuận. Nếu pháp luật không có quy định, không cho phép tự đặt ra các khoản phí từ các hợp đồng dịch vụ trước đó, việc thu phí cần có sự thỏa thuận và thống nhất với người sử dụng dịch vụ trước khi tiến hành thu phí.

Đối với những khoản tiền phát sinh trong quan hệ dân sự, thương mại mà pháp luật không quy định cụ thể phải được xác lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên. Bởi vậy, người sử dụng dịch vụ cần quan tâm tới 3 vấn đề: Khoản phí này được thu trên cơ sở pháp lý nào; Doanh nghiệp đã thông báo đầy đủ hay chưa; Người sử dụng có thực sự quyền lựa chọn hay không. Nếu một khoản phí được đưa ra theo hướng áp đặt, không phản ánh đúng ý chí thỏa thuận giữa các bên thì người dân có quyền không chấp nhận và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét.

Trong trường hợp này, cơ quan quản lý nhà nước cần theo dõi, đánh giá tác động, kiểm tra tính minh bạch của chính sách thu phí để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và hàng triệu người dân đang sử dụng hệ thống thu phí điện tử không dừng.

Cốt lõi của vấn đề là phải phân biệt giữa giá dịch vụ BOT do Nhà nước quản lý theo phương án tài chính của dự án giao thông với phí quản lý tài khoản do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đề xuất. BOT là quan hệ giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đường bộ; còn phí quản lý tài khoản là quan hệ dân sự, thương mại giữa doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và khách hàng. Trong quan hệ dân sự, nguyên tắc cao nhất vẫn là tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đầu tháng 8, Ví Viettel Money và Ví VETC áp dụng mức phí 6.600 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng cá nhân và 66.000 đồng/tháng/tài khoản đối với khách hàng doanh nghiệp có tài khoản ví liên kết với tài khoản giao thông VETC và ePass.

Việc thu phí nhằm bù đắp chi phí vận hành hạ tầng công nghệ thông tin và duy trì luồng kết nối, giao dịch tự động thông suốt 24/7 giữa ví điện tử và tài khoản giao thông. Đồng thời nâng cấp, bảo vệ tính an toàn và bảo mật dữ liệu tài chính theo tiêu chuẩn nghiêm ngặt của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, việc thu phí sau đó vấp phải phản ứng của dư luận khi nhiều ý kiến cho rằng, khoản thu phí là chưa hợp lý, khách hàng chưa được thông báo đầy đủ và có trường hợp phương tiện không đi qua trạm vẫn phát sinh phí.

>>> Mời độc giả xem thêm video Khởi tố Huấn Hoa Hồng:

Thu phí không dừng từ 1/8: Tài xế cần chú ý những gì?

Từ ngày 1/8, các tuyến cao tốc trên cả nước chỉ thu phí không dừng và dưới đây là những điều các chủ phương tiện cần phải lưu ý khi có ý định lưu thông vào các cao tốc.

Thu phi khong dung tu 1/8: Tai xe can chu y nhung gi?

Thẻ thu phí không dừng là gì?: Thu phí không dừng (ETC) là hình thức thu phí áp dụng công nghệ tự động nhận diện phương tiện di chuyển qua và trừ tiền vào tài khoản giao thông, vì vậy chủ xe không cần dừng lại tại các BOT để trả tiền. (Ảnh minh hoạ) 

Thu phi khong dung tu 1/8: Tai xe can chu y nhung gi?-Hinh-2

Tại sao nên sử dụng dịch vụ thu phí không dừng ETC?: Với tài xế, tiết kiệm thời gian, giảm ùn tắc do không cần dừng lại xếp hàng chờ mua vé; giảm ô nhiễm môi trường nhờ tiết kiệm giấy in, khói bụi; không cần sử dụng tiền mặt, hạn chế tiếp xúc và dịch bệnh; Tiết kiệm nhiên liệu khi lưu thông trôi chảy. 

Đọc nhiều nhất

Tin mới