Ba loại ung thư xương dễ di căn và tử vong

Ung thư xương thường phát triển nhanh, dễ di căn và gây tử vong. 

Ung thư xương tạo xương 
Đây là u ác tính thường gặp nhất, tỷ lệ gặp 0.25/100.000 dân một năm. Nó thường gặp ở hành xương của phần đầu dưới xương đùi, đầu trên xương chày, đầu trên xương cánh tay, xương chậu và đầu trên xương đùi. Phần lớn bệnh nhân ở tuổi thanh niên, nam gặp nhiều hơn với tỷ lệ 3/2. Biểu hiện đáng kể nhất là đau, sưng nề gần khớp. Một số bị hạn chế vận động. X-quang thấy tổn thương phá hủy xương ở hành xương và hiếm khi lan đến thân xương, thường có hình ảnh bong màng xương. 
Độ ác tính của loại ung thư này rất cao, hiếm gặp ung thư xương tạo xương mà ít ảnh hưởng đến cơ thể. Tiến triển tự nhiên của u này thường nhanh, di căn sớm đến phổi và tử vong nếu không được điều trị thích hợp. Điều trị bằng phẫu thuật (thường là cắt cụt chi) tổn thương tiên phát có thể làm tăng tỷ lệ sống trên 5 năm là 10 - 20%. Phần lớn bệnh nhân tử vong trong 2 năm đầu. Với hoá trị liệu bổ trợ sau phẫu thuật cắt cụt chi hoặc phẫu thuật loại bỏ khối u tại chỗ, sự di căn phổi giảm đáng kể, tỷ lệ sống trên 5 năm lên đến 60%. 
Hình chụp X-quang ung thư xương tạo xương đầu dưới xương đùi. 
Ung thư sụn nguyên phát
Sự ảnh hưởng của ung thư sụn (chondrosarcoma) bằng khoảng một nửa của ung thư xương tạo xương. Phần lớn khối u này tiến triển tại chỗ, như ở cánh chậu, xương sườn hoặc xương bả vai. Độ tuổi thường bị khoảng quanh 60 tuổi, tỷ lệ nam: nữ là 2/1. 
Triệu chứng thường biểu hiện tại chỗ, ít khi nhìn thấy được khối u từ bên ngoài. X-quang biểu hiện tổn thương ít cản quang lan rộng, chứa những hạt canxi hoá. Ở giai đoạn sau, có thể thấy tổn thương giống ung thư xương tạo xương trên X-quang. Khối u cũng thường thấy ở vùng hành xương của xương dài, tuy nhiên ưu thế nhiều hơn ở xương dẹt, tỷ lệ gặp cao ở xương chậu, xương sườn và xương bả vai. 
Tiến triển thường từ 1 ổ và có nguy cơ tái phát cao tại chỗ nếu tất cả khối u không được loại bỏ hết. U có khả năng di căn xa, đặc biệt là đến phổi, nhưng thường xảy ra muộn hơn các thể u khác. Nguyên tắc điều trị ung thư sụn là càng phẫu thuật lấy u triệt để càng tốt. Không có chứng cứ nào chứng tỏ xạ trị hoặc hoá trị kiểm soát được khối u. Phẫu thuật triệt để sẽ có kết quả sống trên 5 năm ở hầu hết các u giai đoạn I và được tỷ lệ sống trên 5 năm đáng kể ở giai đoạn III.
Ewing Sarcoma
Sarcoma Ewing có tỷ lệ mắc 0,1/100.000 dân mỗi năm. Hay gặp ở tuổi khoảng 20 - 30. U Ewing hầu hết bị ở chi, đặc biệt là chi dưới và cánh chậu. Triệu chứng là đau, sưng nề tại chỗ và đôi khi có sốt, tăng bạch cầu. X-quang có hình ảnh giảm mật độ xương và hủy xương, thường ở hành xương, nhưng cũng có ở thân xương. Đại thể không có gì điển hình, với mô xương cơ màu xám, mật độ xương thấp, tạo hỗn hợp lỏng lẻo, hoại tử. Giai đoạn muộn có thể giống nhiễm khuẩn và có thể nhầm với viêm xương tủy. 
Bệnh này tiến triển nhanh tại chỗ, di căn sớm và tử vong nếu không được điều trị đúng cách. Di căn thường đến phổi, nhưng cũng có thể đến các mô khác (kể cả xương) với tần số cao hơn các sarcoma tạo xương. Xạ trị kết hợp với hoá trị với u nguyên phát có thể làm tăng tỷ lệ sống trên 5 năm đến 60%. Điều trị sarcoma Ewing ở xương chậu đặc biệt khó khăn. Phẫu thuật đối với u trong giai đoạn sớm kết hợp các phương pháp điều trị khác đang được cân nhắc. Nếu với xương của chi, phẫu thuật có thể tiến hành sau các đợt điều trị xạ trị và hoá trị.
BSCK II Phùng Ngọc Hòa - ThS Dương Đình Toàn (Viện Chấn thương chỉnh hình, Bệnh viện Việt Đức)

Bình luận(0)