Tại các chợ truyền thống và hệ thống bán lẻ trên địa bàn TPHCM, thị trường sầu riêng đang ghi nhận sự phân hóa giá rất lớn. Mặc dù tổng nguồn cung đã hạ nhiệt so với giai đoạn cao điểm quý II/2026, mặt bằng giá sầu riêng vẫn dao động mạnh, từ mức 25.000 đồng/kg ở phân khúc bình dân cho đến hàng trăm nghìn đồng/kg tại các điểm bán chuyên biệt.
Khảo sát tại nhiều chợ dân sinh cho thấy các dòng sầu riêng phổ thông hiện có giá khá mềm, phù hợp với túi tiền của đa số người tiêu dùng. Dòng sầu riêng hạt truyền thống xuất xứ từ khu vực Tây Nguyên, đặc trưng bởi hạt to, cơm ít nhưng có độ ngọt béo cao, hiện được bán với giá khoảng 25.000 đồng/kg và trở thành lựa chọn thu hút nhóm khách hàng có thu nhập trung bình.
Đối với các giống sầu riêng thương mại phổ biến, mức giá được phân tách rõ theo chất lượng và độ mới của sản phẩm. Dòng sầu riêng Ri 6 hàng chợ thông thường có giá dao động từ 30.000 đến 60.000 đồng/kg, trong khi các loại hàng tuyển niêm yết ở mức 60.000 đến 80.000 đồng/kg. Tương tự, sầu riêng Monthong loại 2 giữ mức 65.000 đến 80.000 đồng/kg, còn hàng loại 1 được bán ra ở mức 90.000 đến 110.000 đồng/kg.
Ngược lại, tại các cửa hàng trái cây cao cấp và hệ thống phân phối chuyên biệt, giá sầu riêng neo ở mức rất cao. Sầu riêng Ri 6 đạt chuẩn VietGAP hoặc sầu riêng Cái Mơn hiện dao động từ 110.000-160.000 đồng/kg.
Đặc biệt, các phân khúc nhập khẩu hoặc thương hiệu như Musang King có giá nguyên trái từ 300.000 đến 350.000 đồng/kg, tương ứng phần cơm từ 1,2-1,5 triệu đồng/kg. Trong khi đó, sầu riêng Blackthorn chạm mốc 400.000 đến 500.000 đồng/kg nguyên trái và gần 1,8 triệu đồng/kg đối với phần cơm tách sẵn.
Phân tích về nguyên nhân dẫn đến đà phân hóa giá mạnh mẽ này, ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (VINAFRUIT), chỉ ra rằng giá sầu riêng phụ thuộc trực tiếp vào giống, kỹ thuật canh tác, tiêu chuẩn an toàn và chi phí kiểm soát chất lượng.
Những nhà vườn áp dụng quy trình canh tác bài bản có thể đạt tỷ lệ trái loại 1 lên tới 70-80%, tạo điều kiện thuận lợi để đưa sản phẩm vào chuỗi bán lẻ hiện đại hoặc xuất khẩu với giá trị cao. Trong khi đó, các diện tích canh tác theo phương thức truyền thống thường chỉ đạt tỷ lệ hàng chuẩn từ 20 đến 30%.
Sự chênh lệch về chất lượng đầu ra kéo theo việc phân loại mã hàng loại A, B hoặc hàng dạt ngay tại vựa. Ngay từ khâu thu mua, khoảng cách giá đã chênh lệch khoảng 20.000 đồng/kg và tiếp tục nới rộng khi qua các tầng trung gian phân phối.
Các sản phẩm bày bán tại chợ dân sinh sở dĩ có giá thành rẻ hơn đáng kể là do phần lớn thuộc nhóm hàng dạt, không đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe về kích thước, hình dáng gai hoặc tỷ lệ cơm trái của phân khúc xuất khẩu và bán lẻ cao cấp.
Đồng quan điểm, đại diện các hợp tác xã nông nghiệp tại Đắk Lắk cũng khẳng định, khả năng truy xuất nguồn gốc, tỷ lệ cơm cùng thị hiếu tiêu dùng của thị trường xuất khẩu là những biến số quyết định mặt bằng giá sầu riêng nội địa trong thời gian tới.