[e-Magazine]: Giữ đất - giữ làng - giữ hồn Mường [Kỳ 3]

nghi-quyet-11-ky-3-1.jpg

Giữ đất để giữ nhà. Giữ nhà để giữ làng. Nhưng giữ làng, suy cho cùng, là để giữ con người.

nghi-quyet-11-ky-3-2.jpg

Tiếng chiêng của Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống dân tộc Mường vừa dứt. Những nghệ nhân cẩn thận lau từng chiếc chiêng rồi treo lên vách. Những bộ váy áo Mường được gấp gọn trong chiếc túi vải. Mỗi người lặng lẽ trở về căn nhà của mình.

Không ai biết buổi tập tiếp theo sẽ diễn ra đúng lịch hay lại phải nhường nhà văn hóa cho một cuộc họp thôn, một lớp học hè hay một hoạt động khác.

Ba năm qua, họ đã quen với điều ấy.

Nhưng điều khiến chúng tôi day dứt hơn cả không phải là câu chuyện "ở nhờ" của một câu lạc bộ. Mà là một câu hỏi lớn hơn: Nếu một ngày tiếng chiêng vẫn còn, nhưng không còn người hiểu vì sao tiếng chiêng phải vang lên... thì điều gì sẽ mất trước?.

Và có lẽ, Nghị quyết số 11/2026/NQ-HĐND ngày 02/6/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội về chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn thành phố đã “lý giải” được vấn đề cốt lõi của văn hoá vùng bán sơn địa của Thủ đô.

Bàn về Nghị quyết số 11/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố Hà Nội, PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội gần như không nói nhiều về đất đai theo nghĩa thông thường.

Ông nói về...

Con người.

Cộng đồng.

Và ký ức.

"Nếu chỉ nhìn Nghị quyết này như một chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất thì chúng ta mới nhìn thấy phần vật chất của vấn đề. Giá trị sâu xa hơn là chính sách đất đai ở đây đang bảo vệ nền tảng tồn tại của một cộng đồng văn hóa".

Theo ông, với đồng bào dân tộc thiểu số, đất chưa bao giờ chỉ là tài sản.

Đó là nơi dựng nhà.

Lập bản.

Giữ tiếng nói.

Giữ lễ hội.

Giữ quan hệ cộng đồng.

Giữ cách con người ứng xử với thiên nhiên và với nhau.

"Nếu cộng đồng mất nơi để tồn tại, văn hóa cũng rất khó tồn tại". Đó là lý do ông cho rằng, giá trị lớn nhất của Nghị quyết 11 không nằm ở vài trăm mét vuông đất mà nằm ở tư duy phát triển.

Một tư duy coi đất đai là nền tảng để bảo vệ con người và bảo vệ bản sắc.

nghi-quyet-11-ky-3-4.jpg

Điểm được nhiều chuyên gia đánh giá cao trong Nghị quyết 11 là quy định lần đầu tiên dành quỹ đất sinh hoạt cộng đồng tối thiểu 300m2 tại các thôn, xóm vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thoạt nghe...

Đó chỉ là một con số.

Nhưng dưới góc nhìn văn hóa, con số ấy có ý nghĩa hoàn toàn khác.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn nói: "Văn hóa cần có nơi chốn để tồn tại. Một nhà văn hóa, một sân sinh hoạt cộng đồng hay một khoảng không gian chung có thể trở thành nơi diễn ra lễ hội, truyền dạy nghề, dạy tiếng dân tộc, lưu giữ nhạc cụ, hiện vật và ký ức".

Ông gọi đó là... "mảnh đất ký ức".

Ở đó...

Những người già kể chuyện.

Những nghệ nhân đánh chiêng.

Những bà mẹ dạy con dệt vải.

Những đứa trẻ học tiếng Mường.

Du khách hiểu vì sao chiếc gùi, chiếc khung cửi hay tiếng chiêng lại trở thành linh hồn của một dân tộc.

Không gian ấy không chỉ lưu giữ văn hóa.

Mà làm cho văn hóa tiếp tục được sống.

Điều ấy khiến chúng tôi nhớ lại ánh mắt của nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh khi ông chỉ vào hàng chục bức ảnh chụp những hiện vật đang cất trong nhà mình.

"Tôi chỉ mong có một nơi để chúng được kể chuyện".

Có lẽ...

300m2 đất không thể đo bằng diện tích.

Nó phải được đo bằng số ký ức mà nó có thể giữ lại.

nghi-quyet-11-ky-3-5.jpg

Trong nhiều năm nghiên cứu văn hóa, PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng sự mai một văn hóa hiếm khi diễn ra bằng những biến cố lớn. Nó thường bắt đầu rất lặng lẽ.

Một đứa trẻ không còn nói tiếng mẹ đẻ.

Một lễ hội ít người tham gia.

Một nghệ nhân mất đi mà không có học trò kế tục.

Một bộ chiêng phủ bụi.

Một ngôi nhà sàn bị phá bỏ.

Một chiếc khung cửi không còn tiếng thoi.

Những điều ấy xảy ra từng chút một.

Đến khi người ta nhận ra...

Một phần bản sắc đã biến mất.

Ông nhận định:

"Không gian cộng đồng chính là nơi văn hóa được thực hành tự nhiên.

Nếu không còn nơi để gặp nhau, không còn dịp để thực hành thì văn hóa phi vật thể rất dễ bị bảo tàng hóa.

Vẫn còn hồ sơ.

Vẫn còn hiện vật.

Nhưng không còn đời sống".

Những lời ấy khiến chúng tôi nhớ đến con số mà nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh từng trăn trở:

"Khoảng 80% lớp trẻ bây giờ không biết, không hiểu tiếng Mường".

Không ai ép các em quên.

Các em chỉ...

không còn môi trường để nhớ.

nghi-quyet-11-ky-3-6.jpg

Yên Bài hôm nay khác rất nhiều so với mười năm trước.

Đường rộng hơn.

Du lịch phát triển.

Nhiều ngôi nhà mới mọc lên.

Đời sống người dân khấm khá hơn.

Đó là tín hiệu đáng mừng.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn cho rằng, điều cần làm không phải là chống lại đô thị hóa mà là làm cho đô thị hóa...có văn hóa hơn. Ông phân tích, nguy cơ lớn nhất hiện nay không phải là những công trình mới mà là việc các không gian cộng đồng bị thu hẹp. Lối sống dần đồng nhất. Thế hệ trẻ rời xa cội nguồn.

"Hà Nội càng hiện đại thì càng cần nâng niu những không gian văn hóa đặc thù. Một Thủ đô văn minh không phải là nơi mọi cộng đồng đều trở nên giống nhau. Mà là nơi mọi cộng đồng đều có cơ hội phát triển trong bản sắc riêng của mình".

Đó cũng là điều chúng tôi cảm nhận rất rõ ở Yên Bài. Không ai muốn níu giữ quá khứ theo cách đóng băng. Những người Mường nơi đây vẫn muốn phát triển. Muốn có cuộc sống tốt hơn. Muốn con cháu học đại học. Làm kỹ sư. Làm bác sĩ. Đi khắp thế giới. Nhưng...vẫn biết đánh chiêng, vẫn hiểu tiếng Mường, vẫn tự hào mình là người Mường.

nghi-quyet-11-ky-3-7.jpg

Có lẽ, đây là câu hỏi lớn nhất mà hành trình ở Yên Bài để lại.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn trả lời rất ngắn gọn: "Đây không chỉ là chính sách về đất. Đây là chính sách về con người. Không chỉ là chính sách an sinh. Đây là chính sách văn hóa".

Theo ông, hỗ trợ đất ở giúp đồng bào an cư. Hỗ trợ đất sản xuất giúp đồng bào có sinh kế. Dành quỹ đất sinh hoạt cộng đồng giúp đồng bào có nơi giữ gìn và trao truyền bản sắc. Ba yếu tố ấy kết nối thành một chỉnh thể: An sinh; Văn hóa và Phát triển con người. Đó cũng là biểu hiện cụ thể của tư duy phát triển bao trùm. Không để ai bị bỏ lại phía sau. Nhưng sâu hơn... Không để bất cứ cộng đồng nào bị mờ đi trong tiến trình phát triển của Thủ đô.

nghi-quyet-11-ky-3-8.jpg

Nói về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh, PGS.TS Bùi Hoài Sơn có một góc nhìn rất đáng suy ngẫm.

Ông cho rằng, sự thanh lịch của Hà Nội không chỉ thể hiện ở lời ăn tiếng nói nơi phố thị, mà còn thể hiện ở cách thành phố ứng xử với những cộng đồng còn khó khăn.

Một Thủ đô văn minh không chỉ đẹp ở những đại lộ mà còn đẹp trong cách chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đẹp ở việc bảo vệ sự đa dạng văn hóa. Đẹp ở khả năng không để ai bị bỏ lại phía sau. "Chính sách ấy góp phần nuôi dưỡng phẩm chất văn minh của người Hà Nội hôm nay: Văn minh trong bao dung. Thanh lịch trong sẻ chia. Hiện đại nhưng không vô cảm. Phát triển nhưng không đánh mất tình người." Có lẽ... đó cũng là thông điệp đẹp nhất mà Nghị quyết 11 gửi gắm.

nghi-quyet-11-ky-39.jpg

Trước khi chia tay Yên Bài, chúng tôi gặp lại nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh.

Ông vẫn đứng trước bộ chiêng quen thuộc, vẫn cẩn thận chỉnh từng nhịp tay cho những học trò nhỏ, vẫn kiên nhẫn sửa từng động tác. Như thể thời gian chưa từng trôi.

Chúng tôi hỏi ông: "Nếu sau này có một không gian văn hóa riêng, điều đầu tiên ông muốn làm là gì?".

Ông không suy nghĩ lâu. "Tôi sẽ mở cửa hằng ngày. Để trẻ con thích lúc nào thì đến. Đánh một tiếng chiêng cũng được. Ngồi nghe kể chuyện cũng được. Chỉ cần chúng đến..."

Ông dừng lại. Ánh mắt hướng về khoảng sân nơi vài đứa trẻ đang nô đùa dưới bóng núi Ba Vì.

Có lẽ ông hiểu. Giữ văn hóa không phải là giữ cho mình, mà là giữ cho những người chưa kịp lớn, để một ngày nào đó, khi ông không còn đứng giữa vòng chiêng nữa... Vẫn sẽ có một đứa trẻ bước lên, cầm lấy chiếc dùi, đánh đúng nhịp đầu tiên và biết vì sao tiếng chiêng ấy phải vang lên.

Rời Yên Bài, chúng tôi mang theo nhiều hơn những cuốn sổ ghi chép, mang theo hình ảnh một người nghệ nhân lặng lẽ đi nhặt từng mảnh ký ức.

nghi-quyet-11-ky-310.jpg

Mang theo câu chuyện của người mẹ già chỉ mong giữ được mảnh đất cho con cháu.

Mang theo nỗi lo của một người bệnh chạy thận vẫn đau đáu về mảnh đất chưa có giấy chứng nhận.

Và mang theo niềm tin rằng, nếu chính sách được thực thi bằng sự quyết tâm của chính quyền, bằng trách nhiệm của các cấp, các ngành và bằng sự đồng hành của cộng đồng, thì những điều tưởng như rất nhỏ hôm nay sẽ tạo nên những giá trị rất lớn cho ngày mai.

Bởi giữ đất không chỉ để dựng một mái nhà.

Giữ đất còn là giữ nơi ký ức được neo lại.

Giữ nơi tiếng mẹ đẻ còn được cất lên.

Giữ nơi tiếng chiêng còn ngân giữa núi Ba Vì.

Giữ một bản làng.

Giữ một cộng đồng.

Giữ một sắc màu không thể thay thế trong bức tranh văn hóa Thủ đô.

Để Hà Nội trên hành trình trở thành một đô thị hiện đại, sáng tạo và phát triển bao trùm, vẫn luôn là Thủ đô của những giá trị được gìn giữ từ gốc rễ. Bởi một thành phố chỉ thật sự lớn khi biết nâng niu cả những điều nhỏ bé nhất làm nên linh hồn của mình.

nghi-quyet-11-ky-311.jpg

Bộ Chính trị ra nghị quyết phát triển Thủ đô Hà Nội

Ngày 6/1, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011-2020. Trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

I- Tình hình và kết quả 10 năm thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị

1- Thủ đô Hà Nội có bề dày lịch sử và truyền thống cách mạng vẻ vang, là địa danh tiêu biểu cho truyền thống "Văn hiến-Anh hùng-Hòa bình-Hữu nghị" của dân tộc Việt Nam. Từ ngày có Đảng đến nay, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô Hà Nội đã luôn phát huy truyền thống đoàn kết, gương mẫu, đi đầu, có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mười năm qua, thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) "Về nhiệm vụ, phương hướng phát triển Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ 2001-2010" trong bối cảnh vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn, thách thức chung của cả nước, Hà Nội còn thực hiện chủ trương lớn về mở rộng địa giới hành chính Thủ đô theo Nghị quyết 15 của Quốc hội khoá XII và nhiều nhiệm vụ quan trọng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Với sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm cao, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nội đã quán triệt, vận dụng, tổ chức thực hiện nghiêm túc, sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, đạt được nhiều thành tựu nổi bật:

Kinh tế liên tục tăng trưởng cao; cơ cấu kinh tế dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp chuyển dịch tích cực ngày càng rõ nét; quy mô kinh tế được mở rộng; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội và đô thị phát triển theo hướng hiện đại. Bộ mặt thành phố, kể cả khu vực đô thị và vùng nông thôn có nhiều thay đổi. Đặc biệt, việc tập trung giải quyết thành công một khối lượng lớn công việc trong quá trình hợp nhất, mở rộng địa giới hành chính, đã đưa Thủ đô Hà Nội bước vào thời kỳ phát triển mới, với một tầm vóc lớn hơn.

Văn hóa-xã hội tiếp tục phát triển, đạt nhiều kết quả quan trọng, nhất là về xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh; giữ gìn và phát huy những giá trị văn hoá tiêu biểu của Thăng Long-Hà Nội; mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế; gắn kết khoa học-công nghệ với sản xuất, kinh doanh; giải quyết việc làm, giảm tỉ lệ hộ nghèo và bảo đảm an sinh xã hội. Đời sống của nhân dân Thủ đô, đặc biệt là ở vùng nông thôn, xa trung tâm được cải thiện rõ rệt.

Hệ thống chính trị được củng cố, tăng cường; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của các cấp chính quyền được nâng cao, nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân có những đổi mới, hướng về cơ sở.

Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh, trật tự được tăng cường, bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại diễn ra trên địa bàn.

Quan hệ đối ngoại tiếp tục được mở rộng; việc tổ chức thành công Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội đã để lại ấn tượng tốt đẹp, nâng cao hơn vai trò, vị thế của Thủ đô.

Sau hơn 25 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần rất quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước. Trong quá trình xây dựng và phát triển, Thủ đô Hà Nội đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu "Thủ đô Anh hùng," ba lần được tặng thưởng Huân chương Sao vàng và được tổ chức UNESCO vinh danh là "Thành phố vì hoà bình"…

2- Tuy nhiên, tình hình chung của Hà Nội vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

Kinh tế phát triển chưa toàn diện; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh nhìn chung còn thấp. Các nguồn lực về vốn, nhân lực và công nghệ trên địa bàn chưa được khai thác tốt. Kinh tế tri thức, hàm lượng chất xám làm nên giá trị gia tăng cao của các ngành kinh tế chủ lực chưa thể hiện rõ nét. Sức lan tỏa của một "trung tâm kinh tế lớn," một "động lực kinh tế" trong vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước còn hạn chế.

Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị còn nhiều hạn chế. Việc xây dựng và phê duyệt một số quy hoạch chung còn chậm; hệ thống hạ tầng đô thị và nông thôn còn lạc hậu và chưa đồng bộ. Nhiều vấn đề tồn tại trong quản lý quy hoạch, đất đai, trật tự xây dựng, xử lý úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, tăng dân số cơ học… chậm được khắc phục, gây nhiều bức xúc cho nhân dân.

Kết quả xây dựng văn hóa người Hà Nội thanh lịch, văn minh chưa tương xứng với yêu cầu Thủ đô ngàn năm văn hiến; vai trò của một trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế và giao dịch quốc tế của vùng và cả nước chưa được phát huy đầy đủ.

Khoảng cách giàu-nghèo giữa thành thị và nông thôn còn lớn.

An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định; tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp.

Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chưa đồng bộ. Vai trò hạt nhân lãnh đạo chính trị của một số tổ chức cơ sở đảng, nhất là cấp xã, phường, doanh nghiệp còn thấp; thái độ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa cao. Cải cách hành chính chưa đạt được yêu cầu đề ra.

Sự phân công, phân cấp, phối hợp của các bộ, ngành Trung ương đối với Thủ đô Hà Nội có mặt còn chưa hợp lý, chưa thường xuyên và kịp thời.

3- Những hạn chế, yếu kém nêu trên là do việc thể chế hóa Nghị quyết 15-NQ/TW của Bộ Chính trị còn chậm; cơ chế, chính sách có liên quan đến Hà Nội chưa đồng bộ, nhiều mặt chưa phù hợp với yêu cầu, đặc điểm và nhiệm vụ của Thủ đô; phân công, phân cấp, phối hợp giữa Trung ương và thành phố chưa tốt; những tác động xấu của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, của biến đổi khí hậu và thiên tai…

Công tác chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện Nghị quyết của thành phố trên một số lĩnh vực còn hạn chế, thiếu năng động, quyết liệt, thậm chí có mặt còn trì trệ; sự phối hợp giữa các bộ, ban, ngành Trung ương với thành phố còn nhiều hạn chế, vướng mắc.

II- Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011-2020

1- Trong 10 năm tới, trên cơ sở vận dụng sáng tạo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 gắn với thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XV Đảng bộ thành phố, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội, huy động tối đa sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và tinh thần của Thủ đô và cả nước xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội xứng đáng với vai trò là trung tâm chính trị-hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, một động lực phát triển của vùng đồng bằng Sông Hồng và cả nước; có kinh tế-xã hội phát triển toàn diện, bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, chính trị-xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh tiếp tục được củng cố, tăng cường, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Phấn đấu để Hà Nội thực sự là địa phương đi đầu, về đích sớm 1-2 năm sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020; đóng góp ngày càng quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2- Để thực hiện được phương hướng cơ bản nêu trên, cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

2.1- Tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của kinh tế Thủ đô. Coi trọng sử dụng công nghệ hiện đại, tăng nhanh tỉ lệ nội địa hoá, có nhiều sản phẩm với hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Tập trung phát triển đồng bộ, vững chắc các yếu tố thị trường và các loại thị trường, nhất là những loại thị trường mới được hình thành, như bất động sản, chứng khoán, lao động, khoa học-công nghệ...

Tiếp tục chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp. Khuyến khích, phát triển các loại hình dịch vụ có trình độ và chất lượng cao; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động xuất-nhập khẩu, du lịch. Phát triển mạnh các ngành công nghiệp chủ lực, công nghiệp phụ trợ, công nghiệp công nghệ cao; nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn.

Phát triển nông nghiệp bền vững, hiệu quả theo hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, sinh thái, sạch, công nghệ cao; đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu 2/3 số xã đạt tiêu chí vào năm 2020. Phấn đấu mức tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2011-2020 đạt khoảng 11,5-12%/năm; GDP bình quân đầu người đến năm 2020 khoảng 7.100-7.500 USD/năm; xứng đáng là trung tâm kinh tế lớn, trung tâm tài chính - ngân hàng hàng đầu của vùng và cả nước.

Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Trọng tâm là nâng cao vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đổi mới, nâng cao hiệu quả và vai trò nòng cốt của doanh nghiệp nhà nước, nhất là nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các tổng công ty nhà nước trực thuộc thành phố; phát triển kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã; khuyến khích, phát triển kinh tế tư nhân, các loại hình doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp theo quy hoạch và quy định của pháp luật.

2.2- Tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng và quản lý quy hoạch bảo đảm đồng bộ, hiện đại, ổn định và lâu dài. Trên cơ sở các quy hoạch chung đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đẩy nhanh việc xây dựng các quy hoạch chi tiết, phân khu chức năng, ngành, lĩnh vực và địa phương.

Huy động tối đa mọi nguồn lực tạo bước đột phá về tăng cường đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông và hạ tầng kỹ thuật khung làm cơ sở để đẩy nhanh tiến trình xây dựng Thủ đô văn minh, hiện đại.

Tập trung đầu tư để cơ bản hoàn thành việc cải tạo hệ thống giao thông khu vực nội đô vào năm 2015; sớm hoàn thành các dự án tuyến đường vành đai thành phố; triển khai nhanh các dự án giao thông trên cao, đường sắt đô thị, các công trình ngầm gắn với phát triển vận tải hành khách công cộng bằng các hình thức vận tải hiện đại và tổ chức quản lý giao thông khoa học. Đẩy nhanh tiến độ cải tạo và nâng cấp hệ thống cung cấp điện, cấp, thoát nước thành phố.

Tiếp tục phát triển các khu đô thị mới, xây dựng các khu đô thị vệ tinh. Xử lý tốt hơn những vấn đề về nhà ở đô thị, quản lý đất đai, trật tự xây dựng, trật tự và an toàn giao thông, trật tự công cộng, xử lý chất thải và bảo đảm vệ sinh môi trường, xây dựng nếp sống văn minh đô thị... Hoàn thành việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường, một số trường đại học, cơ sở khám, chữa bệnh ra khỏi trung tâm thành phố. Tăng cường công tác quản lý dân cư trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố, nhất là các địa phương lân cận đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm, nhằm hạn chế tình trạng di dân tự phát vào Hà Nội.

Phấn đấu trước năm 2020, khắc phục cho được nạn úng ngập, khắc phục cơ bản nạn ùn tắc giao thông trong nội đô và đạt được những tiêu chí cơ bản của một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại.

2.3- Huy động mọi tiềm năng, thế mạnh, nguồn lực và đẩy mạnh xã hội hoá để phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục - đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ thực sự trở thành những trung tâm lớn, đáp ứng yêu cầu phát triển Thủ đô và cho sự phát triển chung của vùng và cả nước.

Tiếp tục xây dựng văn hoá Thủ đô xứng tầm với truyền thống ngàn năm văn hiến; tạo bước chuyển biến mới trong xây dựng văn hoá người Hà Nội thanh lịch, văn minh; tiếp tục phát triển hệ thống thông tin đại chúng, sự nghiệp sáng tạo văn học, nghệ thuật, hoàn thiện các thiết chế văn hoá, bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống Thăng Long-Hà Nội đi đôi với xây dựng mới các công trình văn hoá tiêu biểu.

Xây dựng, phát triển, nâng cao vị thế hàng đầu của giáo dục - đào tạo Thủ đô; đi đầu trong phổ cập giáo dục mầm non, phổ cập giáo dục trung học phổ thông và trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tiếp tục xây dựng, nhân rộng các trường chất lượng cao ở tất cả các bậc học, cấp học.

Phát triển đồng bộ hệ thống y tế đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Đa dạng hoá các hình thức chăm sóc sức khoẻ nhân dân đi đôi với đầu tư phát triển một số cơ sở y tế chuyên sâu, kỹ thuật cao, đạt trình độ khu vực và quốc tế. Làm tốt công tác y tế dự phòng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Phát triển mạnh khoa học - công nghệ gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chủ động phối hợp với các học viện, trường đại học, trung tâm nghiên cứu trên địa bàn; coi trọng hợp tác quốc tế để đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học - công nghệ, phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Thủ đô.

Tăng cường công tác phòng ngừa, khắc phục ô nhiễm, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái, chủ động phòng tránh thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Thực hiện tốt các chính sách xã hội và bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân Thủ đô, thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo giữa thành thị và nông thôn.

2.4- Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh; giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, các hoạt động đối ngoại quốc gia, các sự kiện chính trị lớn diễn ra trên địa bàn.

Tiếp tục xây dựng lực lượng quân đội, công an Thủ đô cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, thực sự là nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Xây dựng vững chắc thế trận lòng dân, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh ngay từ khi xác định chủ trương, hình thành các dự án, công trình cụ thể; tập trung đầu tư, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Triển khai có hiệu quả việc đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội; xử lý có hiệu quả các vấn đề phức tạp nảy sinh, không để bất ngờ xảy ra.

2.5- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường các hoạt động đối ngoại, nhất là với thủ đô một số nước. Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác, liên kết với một số địa phương trong vùng và cả nước.

2.6- Tập trung mọi nỗ lực xây dựng hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh. Tạo chuyển biến mạnh hơn trong công tác xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng bộ, nhất là tổ chức cơ sở đảng và đội ngũ đảng viên. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền các cấp; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ của thành phố có trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm cao, tâm huyết với công việc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cải cách hành chính, cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

III- Tổ chức thực hiện

1- Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị "Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011 - 2020" trước hết là trách nhiệm của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hà Nội, đồng thời cũng là trách nhiệm của các cấp uỷ, tổ chức đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân ở Trung ương và các địa phương trong cả nước.

2- Bộ Chính trị chỉ đạo việc sơ kết Nghị quyết theo định kỳ 5 năm; tuỳ thời gian và yêu cầu công việc, có hội nghị về công tác lãnh đạo Thủ đô Hà Nội. Ban Bí thư chỉ đạo việc quán triệt, triển khai thực hiện và định kỳ (1 hoặc 2 năm) đánh giá việc thực hiện Nghị quyết.

3- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc chuẩn bị và trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật Thủ đô, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình xây dựng và phát triển.

4- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc hướng dẫn thi hành Luật Thủ đô khi được Quốc hội ban hành; xây dựng một số cơ chế, chính sách và phân cấp cho chính quyền Hà Nội thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết công việc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặc thù của Thủ đô, trọng tâm là các lĩnh vực đầu tư, tài chính, quản lý trật tự xây dựng, trật tự giao thông, quản lý môi trường, quản lý dân cư…; tăng cường đầu tư để đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án trọng điểm quốc gia trên địa bàn; sớm ban hành Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của thành phố Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Định kỳ hằng năm, Thường trực Chính phủ chủ trì cùng với các bộ, ngành làm việc với Hà Nội để kiểm điểm, đánh giá tiến độ thực hiện Nghị quyết.

5- Các bộ, ban, ngành Trung ương phối hợp với Hà Nội xây dựng các chương trình, kế hoạch, cơ chế, chính sách cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, phối hợp, giúp Hà Nội tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình xây dựng và phát triển.

6- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể Trung ương vận động các thành viên, đoàn viên, hội viên, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của thành phố, có trách nhiệm tham gia, đóng góp vào quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô.

7- Các tỉnh, thành phố cùng với Hà Nội tăng cường các hình thức liên kết, hợp tác phù hợp với nhu cầu và thế mạnh của các địa phương, tạo sự thống nhất và sức mạnh chung về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh cho Hà Nội, cho mỗi địa phương, cho toàn vùng và cả nước.

8- Hà Nội có trách nhiệm chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành có liên quan sớm nghiên cứu, đề xuất ban hành các văn bản hướng dẫn, các cơ chế, chính sách để tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tổ chức chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ phát triển hằng năm, các chương trình, dự án trọng điểm trên địa bàn. Đẩy mạnh việc liên doanh, liên kết và hợp tác với các địa phương trong vùng và cả nước, với các đối tác nước ngoài.

9- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì hướng dẫn việc tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết của Bộ Chính trị. Văn phòng Trung ương Đảng giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo dõi, kiểm tra, sơ kết, tổng kết Nghị quyết của Bộ Chính trị.

(Theo TTXVN)

Đọc nhiều nhất

Tin mới

Trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho tập thể Trường Đại học Năng lượng Quốc gia Moscow

Trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho tập thể Trường Đại học Năng lượng Quốc gia Moscow

Ngày 18/7/2026, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba cho tập thể Trường Đại học Năng lượng Quốc gia Moscow (MPEI) và Huân chương Lao động hạng Nhất cho GS.TSKH. Rogalev Nikolay Dmitrievich, Hiệu trưởng nhà trường.