Thực hư âm mưu trấn yểm nước Việt của Mã Viện

Google News

Trong dân gian vẫn lưu truyền câu chuyện về cột đồng Mã Viện như một âm mưu trấn yểm nước Việt của viên tướng Đông Hán…

Câu chuyện về cột đồng Mã Viện trong lịch sử
Mã Viện tự Văn Uyên, người Phù Phong, Mậu Lăng nay là huyện Phù Phong, địa cấp thị Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Việc Mã Viện dựng cột đồng có liên quan mật thiết với cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng.
Theo đó, ngày 30 tháng 1 năm Tân Sửu (tức năm 41), nhà Hán thấy Hai Bà Trưng xưng vương dấy quân đánh lấy các thành ấp, các quận biên thùy, nên hạ lệnh cho các quận Trường Sa, Hợp Phố và Giao Châu sắp sẵn xe thuyền, sửa sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương. Đồng thời, Vua Hán cũng giao cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu Lưu Long làm phó sang xâm lược.
 Ảnh minh họa.
Cánh quân bộ tiến vào vùng Đông Bắc, Mã Viện tiến theo đường ven biển, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng Bạc. Năm Quý Mão (tức năm 43), Hai Bà Trưng chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô nên bị thua, đều tử trận.
Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót lại huyện Cư Phong. Sau đó, Mã Viện bèn dựng cột đồng, tương truyền ở trên động Cổ Lâu, châu Khâm làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán và khắc lên đó dòng chữ thề: “Cột đồng gãy thì Giao Chỉ diệt” (Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt).
Có nhiều tài liệu lịch sử ghi lại câu chuyện về việc Mã Viện dựng cột đồng này. Theo sách “Thủy Kinh chú sớ” của Lịch Đạo Nguyên thì: “Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên) đã cho dựng cái mốc đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Quốc ngày nay.
Mốc đồng ấy tức là cột đồng”. Sách “Đại việt sử lược” cũng chép rằng: “(Kiến Vũ) năm thứ 19 (tức năm 43), Trưng Trắc càng nguy khốn bèn trốn chạy, bị Mã Viện giết... (Sau đó) Mã Viện dựng trụ đồng làm ranh giới cuối cùng (của nhà Đông Hán)”.
Trong sách “Việt Nam sử lược”, sử gia Trần Trọng Kim cũng nhắc lại chuyện cột đồng: “Mã Viện đánh được Trưng Vương, đem đất Giao Chỉ về thuộc nhà Hán như cũ,... Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh, và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới”. Theo đó, cột đồng Mã Viện là có thật. Tuy nhiên, chỗ dựng thì cả ba sách đều biên chép khá mơ hồ.
Về địa điểm dựng cột đồng, một số ý kiến cho rằng cột đồng được dựng ở Khâm Châu. Theo đó, sách “Lĩnh ngoại đại đáp” của Chu Khứ Phi đời Tống (Trung Quốc) và “An Nam chí lược” của Lê Tắc đời Trần (Việt Nam) đều chép Cột đồng Mã Viện được dựng ở vùng hang động Cổ Sâm (có sách ghi là Cổ Lâu) thuộc Khâm Châu (trước thuộc Quảng Đông, nay thuộc Quảng Tây), Trung Quốc.
Đến cuối thế kỷ XVII, sử thần Ngô Sĩ Liên trong bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư” cũng ghi là cột đồng tương truyền dựng ở trên động Cổ Lâu, thuộc châu Khâm. Tuy nhiên, cũng có một số thông tin cho rằng, cột đồng Mã Viện được dựng ở Lâm Ấp.
Sách “Khâm định Việt sử Thông giám cương mục” của Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết: “Theo Tùy sử, tướng Lưu Phương khi đi đánh Lâm Ấp, qua cột đồng của Mã Viện, đi về phía nam 8 ngày thì đến quốc đô Lâm Ấp. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hòa (806 - 820) đời Đường, An Nam đô hộ là Mã Tổng lại lập hai cột đồng ở chỗ Mã Viện dựng cột đồng trước, để tỏ ra mình là dòng dõi con cháu Phục Ba (Mã Viện)”.
Do địa điểm dựng cột đồng Mã Viện vẫn còn là một bí ẩn chưa được giải mã nên có một số ý kiến cho rằng câu chuyện cột đồng chỉ là chuyện đặt thêm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc Mã Viện dựng cột đồng chỉ là giai thoại và không nên chép chuyện này vào sử sách vì không có chứng có chính xác.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu khác lại nói thêm: “Nhiều nhà nghiên cứu, nhà chính trị Trung Quốc ở thế kỷ sau đã nhiều lần tìm lại dấu vết cột đồng Mã Viện mà không thấy. Họ cho rằng cột đồng đã bị đá bồi lấp mất hay bị nước biển cuốn đi. Thực ra, theo nhà nghiên cứu sau này, cột đồng và câu chuyện về cột đồng của Mã Viện đều là chuyện đặt thêm”.
Tuy nhiên, vẫn có người tin rằng chuyện “cột đồng Mã Viện” là có thật, bởi trong lịch sử Trung Quốc việc dựng cột để ghi công sau một cuộc viễn chinh là chuyện thường thấy. Sau Mã Viện, những tướng khác như Hà Lý Trinh, Trương Chu và Mã Tống thuộc đời Đường; Mã Hy thuộc đời Hậu Tấn cũng đã dựng cột đồng ở các xứ phía Nam. Một số triều đại phong kiến ở Trung Quốc đã tỏ ra khá quan tâm về chuyện cột đồng Mã Viện.
Giai thoại dân gian và câu chuyện bùa trấn yểm
Trong dân gian vẫn còn lưu truyền những câu chuyện liên quan đến cột đồng Mã Viện. Có chuyện kể lại rằng: “Mã Viện, tướng nhà Đông Hán, dựng cột đồng ở biên giới - tương truyền là trên ngọn rú Rum (Lam Thành). Cột đồng có khắc dòng chữ “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”, làm cho dân Việt vô cùng căm giận. Có vợ chồng nhà kia ngày ngày lên núi hái thuốc về sao chế, đem ra chợ bán, làm kế sinh nhai...
Một hôm, lên núi, họ phát hiện ra nơi trồng cái cột đồng đáng nguyền rủa. Hôm sau, họ mang theo cái cưa lên núi. Hai vợ chồng dốc sức kéo cưa, quyết hạ cho được cột đồng. Chẳng bao lâu, chiếc cột đã bị cưa đứt và bị ném xuống sông. Người trong vùng nghe chuyện đều cảm phục.
Về sau dân Châu Hoan nhớ công lao, bèn lập đền thờ, tôn vợ chồng họ làm Thành hoàng. Trong đền có thờ cả đôi quang gánh để nhắc đến nghề nghiệp cũ của thần. Tương truyền, ngôi đền ấy ở một xóm nhỏ bên bờ biển Đông, sau này là đất phường Trung Ca, huyện Thiên Lộc”.
Cho đến sau năm 1945, ở thôn Trung Thịnh (tên mới của phường Trung Ca, nay thuộc xã Thịnh Lộc, huyện Can Lộc), vẫn còn ngôi đền thờ một vị thần có hiệu “Dực bảo trung hưng Linh phù bản cảnh Thành hoàng Linh ứng Đôn ngung tôn thần” là tổ sư nghề hát, nghề thuốc và là “người cưa đứt cột đồng Mã Viện”.
Cho đến nay, đền thờ đã không còn nhưng vẫn còn có 3 đạo sắc phong thần (vào năm đầu đời Thành Thái (1889), năm thứ 3 đời Duy Tân (1909) và năm thứ 9 đời Khải Định (1922). Cùng với đó là bản thần tích do ông Cung Khắc Lược đã phát hiện ra.
Bản thần tích bằng chữ Hán được đề là “Hà Tĩnh, Can Lộc huyện, Trung Thịnh thôn bản cảnh Thần hoàng sự tích” do vị hương lão họ Trần viết vào tháng giêng Thành Thái năm đầu (1889). Bản thần tích được dịch ra tiếng Việt với nội dung như sau: “Tương truyền, thời Trung Nữ Vương, ở Dung Sơn có vật yểm. Mã Viện muốn hại dân nước Nam, thường lập cột đồng tại các yếu địa.
Đương thời ở thôn Trung Thịnh có chàng trai lực điền họ Hoàng tên Cơ Thạch, nhà nghèo, thân đơn chiếc, nhưng tính tình vui vẻ, ham thích hát ca. Ngày ngày, chàng lên Rum sơn, nơi bốn mùa cây cỏ tốt tươi, phong phú, là kho thuốc quý, hái thuốc về, trữ đầy cả gian nhà tranh, sao chế, đóng gói đưa ra chợ vừa bán, vừa cho, để giúp người bệnh và có tiền độc nhật.
Một hôm lên núi, chàng thấy có vật lạ, về hỏi các cụ già, mới biết đó là cây cột đồng chôn để yểm trấn. Hôm sau, chàng dậy sớm, mang theo cơm gạo, búa, cưa, vội vã lên núi quyết phá cho được cái vật đáng nguyền rủa kia. Chàng hì hục cưa từ sáng đến chiều thì cây cột đổ. Dân là biết chuyện đều hết sức thán phục.
Trong làng có phường hát, chàng họ Hoàng cũng nhập hội, quanh năm cùng vui vẻ hát hò, và vẫn làm nghề thuốc cứu người. Lúc về già chàng truyền nghề thuốc, nghề hát cho đám trai trẻ trong làng nên ở đây rất nhiều người giỏi thuốc, giỏi hát.
Ông già Hoàng Cơ Thạch không ốm đau, một hôm nằm ngủ thiếp đi và qua đời... hôm ấy là 20 tháng giêng. Dân làng vô cùng thương tiếc. Hằng năm vào ngày này, họ làm giỗ ông, rồi về sau, dựng đền thờ, để tưởng nhớ công lao của ông”.
Về việc cột đồng Mã Viện là bùa trấn yểm nước Việt thì theo nhà khảo cứu độc lập Thiên Đức, cột đồng này chính là một phần của trận đồ phong thủy được lập để diệt tận mọi mầm mống phản kháng ở nước ta. Cụ thể, Mã Viện đã sử dụng một loại bùa rất hiếm hoi đề cập trong sách vở là loại bùa Lưỡng Nghi tức là bùa Âm Dương có hiệu lực cao hơn bùa bát quái hai bậc theo Kinh Dịch.
Yếu tố Dương trong bùa yểm này là chiếc cột đồng, còn yếu tố Âm là Kiến Thành - tòa thành hình cái kén được Mã Viện cho xây ở Phong Khê. Hình dáng Kiến Thành kết hợp với cột đồng Mã Viện tạo nên một đạo bùa mạnh nhằm trấn yểm không cho người đàn bà Giao Chỉ (mà thời nhà Hán gọi là yêu nữ) tiếp nối truyền thống anh hùng dân tộc.
Nói theo kiểu dung tục thì Mã Viện đã chơi một trò rất thô bỉ là “đóng cọc” người đàn bà Giao Chỉ nhằm triệt tiêu con đường kết phát vương quyền cho nữ giới Việt Nam sau này. Ngoài ra, câu “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” về bản chất là một câu thần phù hay một lời nguyền.
Chữ “chiết” ở đây không có nghĩa là gãy mà có nghĩa là tách làm hai. Do đó, câu này nên giải thích là “trụ đồng tách huyệt (đế vương) ra làm hai, vua Giao Chỉ bị giết”, chứ không thể dịch là “trụ đồng bị gãy, dân Giao Chỉ bị giết”. Chữ “huyệt” và chữ “vương” là hai chữ đã bị ẩn trong câu này.
Theo Hôn nhân & Pháp luật

Bình luận(0)