![]() |
| Sergei Shoigu tham quan triển lãm của Tập đoàn Kalashnikov. |
![]() |
| Súng trường tiến công AK-12. |
![]() |
![]() |
| Sergei Shoigu tham quan triển lãm của Tập đoàn Kalashnikov. |
![]() |
| Súng trường tiến công AK-12. |
![]() |
![]() |
| Những ngày này, nước Nga đang tất bật chuẩn bị cho một trong những triển lãm hàng không không vũ trụ quốc tế lớn nhất trong năm được tổ chức tại sân bay Zhukovsky, Moscow. Sự kiện này là sẽ diễn ra từ ngày 27/8-1/9, từ ngày 30/8 sẽ được mở cửa rộng rãi cho người dân vào tham quan. Trước đó, trong những ngày giáp sự kiện, hàng loạt máy bay chiến đấu, vận tải “khủng” nhất Không quân Nga đã đồng loạt đổ về Zhukovsky để chuẩn bị cho sự kiện. Trong ảnh là trực thăng vận tải lớn nhất thế giới Mi-26 chuẩn bị hạ cánh xuống sân bay. |
![]() |
| Trước khi hạ cánh xuống Zhukovsky, các máy bay vẫn còn “tranh thủ lượn vài vòng” khoe sắc. Trong ảnh là tiêm kích đa năng thế hệ 4++ Sukhoi Su-35. |
![]() |
| Trong ảnh là súng tiểu liên MAS-38 do nhà máy vũ khí St Etience của Pháp sản xuất từ năm 1935, chính thức đưa vào trang bị từ 1938. MAS-38 được quân đội viễn chinh Pháp sử dụng phổ biến với số lượng lớn trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược Đông Dương. Hàng ngàn khẩu bị Quân đội Nhân dân Việt Nam tịch thu và được sử dụng trong chiến đấu dưới cái tên “tiểu liên Mát”. MAS-38 dùng cỡ đạn 7,62x20mm, tốc độ bắn 600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 50-100m. |
![]() |
| Tiểu liên MAT-49 do nhà máy vũ khí Tulle Pháp sản xuất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2. MAT-49 bắt đầu được đưa sang Đông Dương trong giai đoạn cuối 1950, đầu 1951 và sau đó dần dần thay thế các loại tiểu liên khác của Anh, Mỹ, Đức để trở thành tiểu liên chủ lực trong quân viễn chinh Pháp. Trong chiến đấu hàng nghìn khẩu MAT-49 (thường được biết đến với tên “tiểu liên Tuyn (Tulle)”) đã bị quân dân Việt Nam tịch thu và cũng nhanh chóng trở thành một trong hai loại tiểu liên chính của bộ đội chủ lực lúc đó. |
![]() |
| Trong giai đoạn đầu của kháng chiến chống Mỹ, MAT-49 tiếp tục được các đơn vị Quân giải phóng miền Nam và dân quân du kích sử dụng với số lượng lớn. Năm 1962, quân giới Việt Nam thực hiện cải biên MAT-49, thay nòng súng nguyên bản bằng nòng tiểu liên K50, thay đầu ngắm và cải tiến băng đạn để lắp đạn K50. Trong 2 năm 1962-1963, trên 2.000 khẩu MAT-49 được cải tiến và đưa vào chi viện cho miền Nam. |
![]() |
| Thông số MAT-49 nguyên bản/MAT-49 cải tiến gồm: cỡ đạn 9x19mm/7,62x25mm (hộp tiếp đạn 32 viên); tốc độ bắn 600/900 phát/phút; tầm bắn hiệu quả 150m. |
![]() |
| Tiểu liên Sten do nhà máy vũ khí Enfield (Anh) phát triển và sản xuất ngay trong chiến tranh thế giới 2. Trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược Đông Dương, quân Pháp tiếp tục sử dụng khá nhiều tiểu liên Sten do Anh cung cấp. Về phía Việt Nam, một số ít Sten được tiếp nhận từ viện trợ của tổ chức tình báo OSS (Mỹ) vào năm 1945, nhưng chủ yếu là tịch thu được từ quân Anh, Pháp trong chiến đấu. Sten dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 550 phát/phút và tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Lanchester do công ty vũ khí Sterling (Anh) phát triển từ năm 1940 để trang bị cho Hải quân Hoàng gia Anh. Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Nam sử dụng một số tiểu liên Lanchester, có lẽ xuất phát từ chiến lợi phẩm thu được hoặc mua qua con đường bí mật từ Thái Lan, Malaysia. Lanchester dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 hoặc 50 viên), tốc độ bắn 600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Thompson do nhà thiết kế J.T. Thompson phát triển từ trong Chiến tranh thế giới thứ 1 và trang bị cho Quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi trong nhiều năm. Sau này, chúng được Quân đội Pháp sử dụng nhiều trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bộ đội ta thu giữ được hàng nghìn khẩu loại này và trang bị để đánh Pháp. Bên cạnh những biến thể của Mỹ, Việt Nam còn sử dụng biến thể do Trung Quốc chế tạo và một số ít do các xưởng quân giới tự sản xuất. |
![]() |
| Thông số biến thể Thompson (M1921/M1928/M1) gồm: dùng cỡ đạn 11,23x23mm (hộp tiếp đạn 20/30/50/100 viên cho biến thể M1921/M1928 hoặc 20/30 viên cho M1); tốc độ bắn 1.000/700/700 phát/phút; tầm bắn hiệu quả 100-150m. |
![]() |
| Tiểu liên M3 được Mỹ nghiên cứu phát triển từ đầu năm 1941 với ý định thiết kế một loại súng đơn giản, rẻ tiền và dễ sản xuất hơn nhằm thay thế cho tiểu liên Thompson. Trong kháng chiến chống Pháp, ta thu được một số lượng không nhỏ tiểu liên M3, cùng với đó là một số biến thể do Trung Quốc “sao chép”. |
![]() |
| Đặc biệt, một số biến thể kiểu 37 được quân giới Việt Nam cải tiến gắn thêm nòng giảm thanh để trang bị cho các đơn vị đặc công, biệt động và thường được biết đến dưới cái tên “tiểu liên Mã Lai”. Loại tiểu liên M3 dùng đạn 11,23x23mm (hoặc 9x19mm với một số biến thể), hộp tiếp đạn 30 viên, tốc độ bắn 450 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 50m. |
![]() |
| Tiểu liên Madsen do Đan Mạch thiết kế và chế tạo với nhiều biến thể như kiểu 1946 (M-46), kiểu 1950 (M-50) và kiểu 1953 (M-53). Trong chiến tranh Việt Nam, loại súng này thường được trang bị cho các đơn vị biệt kích của Pháp, Mỹ và Quân đội Sài Gòn. Một số ít đã bị quân dân Việt Nam tịch thu trong chiến đấu và sử dụng lại. Madsen dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 480 phát/phút (hoặc 550 phát/phút với biến thể M-50/M-53), tầm bắn hiệu quả 100m. |
![]() |
| Tiểu liên PPSh-41 do Liên Xô phát triển từ năm 1940 và sản xuất hàng loạt từ năm 1942. Trong 5 năm, trên 5 triệu khẩu PPSh-41 được sản xuất và viện trợ rộng rãi cho các quốc gia đồng minh. Từ năm 1951, Việt Nam tiếp nhận những khẩu PPSh-41 đầu tiên là phiên bản kiểu 50 do Trung Quốc sản xuất và loại súng này nhanh chóng trở thành một trong những kiểu tiểu liên chính của bộ đội chủ lực trong kháng chiến chống Pháp dưới tên gọi K50. |
![]() |
| Tiểu liên K50 được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ, sau đó còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, được các lực lượng vũ trang Việt Nam sử dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979. |
![]() |
| Đặc biệt, đầu năm 1962, để phục vụ yêu cầu giữ bí mật nguồn cung cấp vũ khí cho miền Nam, quân giới Việt Nam thay vỏ bọc mới, thay báng gỗ bằng báng rút bằng thép để cải tiến cho K50 có hình dạng tương tự tiểu liên MAT-49 của Pháp. Tính đến năm 1968, trên 10.000 khẩu K50 được cải tiến (thường được phương Tây biết đến dưới cái tên K50M) và đưa vào chi viện cho miền Nam. Súng PPSh-41/K50 dùng cỡ đạn 7,62x25mm, tốc độ bắn 900/700 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-250m. |
![]() |
| Tiểu liên PPS-43 do Liên Xô phát triển từ năm 1942 nhằm đáp ứng yêu cầu về một loại tiểu liên gọn nhẹ, rẻ tiền, dễ chế tạo trang bị cho các đơn vị xe tăng, lính dù và trinh sát của Liên Xô. Trong thời gian 1943-1946, trên 2 triệu khẩu được chế tạo, trang bị cho Hồng quân cùng nhiều quốc gia đồng minh của Liên Xô. |
![]() |
| Việt Nam được Liên Xô viện trợ số lượng lớn PPS-43 trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và đưa vào sử dụng phổ biến trong giai đoạn trước 1967 dưới tên gọi K43. Loại súng này còn được các lực lượng vũ trang địa phương sử dụng trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Súng dùng cỡ đạn 7,62x25mm (hộp tiếp đạn 35 viên), tốc độ bắn 500-600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 200m. |
![]() |
| Tiểu liên MP-38/40 do Đức nghiên cứu phát triển từ những năm 1930 để trang bị cho quân đội nước này dùng phổ biến trong Chiến tranh thế giới 2. Trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, quân Pháp sử dụng số lượng lớn tiểu liên MP-38/40. Quân dân Việt Nam thu được nhiều khẩu và sử dụng lại trong chiến đấu cho đến tận thời kỳ đầu kháng chiến chống Mỹ. Súng dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 500 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100m. |
![]() |
| Tiểu liêu SA25 và SA26 do Tiệp Khắc phát triển sau Chiến tranh thế giới 2. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Tiệp Khắc viện trợ một số phiên bản báng gập nhưng loại súng này xuất hiện và được sử dụng không nhiều. |
![]() |
| Thông số kỹ thuật tiểu liên SA25/SA26 gồm: dùng cỡ đạn 9x19/7,62x25mm; hộp tiếp đạn 24-40 viên đối với SA25 và 32 viên với SA26; tốc độ bắn 650 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Skorpion kiểu 1961 do Tiệp Khắc nghiên cứu thiết kế từ cuối những năm 1950. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Tiệp Khắc viện trợ một số tiểu liên Skorpion và chủ yếu trang bị cho các đơn vị đặc công biệt động dưới tên gọi K61. Súng dùng cỡ đạn 7,62x17mm (hộp tiếp đạn 10-20 viên), tốc độ bắn 850 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 25-50m. |
![]() |
| Tiểu liên kiểu 63 hay PM-63 do Ba Lan phát triển từ những năm 1950-1960. Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Ba Lan viện trợ một số tiểu liên PM-63 và chủ yếu trang bị cho các đơn vị đặc công, biệt động dưới tên gọi P63. Súng dùng cỡ đạn 9x18mm, hộp tiếp đạn 15-25 viên, tốc độ bắn 650 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100-150m. |
![]() |
| Tiểu liên Type 64 do Trung Quốc phát triển dành cho lực lượng trinh sát, biệt kích. Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam nhận một số lượng nhỏ Type 64 trang bị cho lực lượng công an vũ trang dưới tên gọi K64. Súng dùng cỡ đạn 7,62x25mm, hộp tiếp đạn 30 viên, tốc độ bắn 1.300 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
Chủ tịchTriều Tiên Kim Jong-un đã có mặt tại lễ công bố chính thức hệ thống pháo phản lực phóng loạt cỡ lớn có thể mang đầu đạn hạt nhân do nước này phát triển.
Theo CBS News, Washington đang cân nhắc khả năng tiến hành các cuộc không kích nhằm vào Iran ngay trong cuối tuần này, nhưng chưa đưa ra quyết định cuối cùng.
Hàn Quốc khởi động một chương trình do DAPA phối hợp với LIG Nex1 dẫn đầu trị giá 1,29 tỷ đô la phát triển loại máy bay tác chiến điện tử cho năm 2035.
Không quân Mỹ tập trung nhiều máy bay E-3 tại Trung Đông để chuẩn bị cho khả năng xung đột kéo dài với Iran, làm giảm năng lực ở các khu vực khác.
Đối với người lính hải quân, Trường Sa chưa bao giờ xa mà hiện hữu trong từng khung hình, con chữ, nhịp đập đất liền và biển đảo vẫn liền một mạch và bền chặt.
Mỹ huy động hàng loạt tàu sân bay, máy bay chiến đấu và hệ thống phòng thủ tên lửa để duy trì ưu thế quân sự trong khu vực.
Đối với người lính hải quân, Trường Sa chưa bao giờ xa mà hiện hữu trong từng khung hình, con chữ, nhịp đập đất liền và biển đảo vẫn liền một mạch và bền chặt.
Mỹ huy động hàng loạt tàu sân bay, máy bay chiến đấu và hệ thống phòng thủ tên lửa để duy trì ưu thế quân sự trong khu vực.
Chủ tịchTriều Tiên Kim Jong-un đã có mặt tại lễ công bố chính thức hệ thống pháo phản lực phóng loạt cỡ lớn có thể mang đầu đạn hạt nhân do nước này phát triển.
Không quân Mỹ tập trung nhiều máy bay E-3 tại Trung Đông để chuẩn bị cho khả năng xung đột kéo dài với Iran, làm giảm năng lực ở các khu vực khác.
Hàn Quốc khởi động một chương trình do DAPA phối hợp với LIG Nex1 dẫn đầu trị giá 1,29 tỷ đô la phát triển loại máy bay tác chiến điện tử cho năm 2035.
Theo CBS News, Washington đang cân nhắc khả năng tiến hành các cuộc không kích nhằm vào Iran ngay trong cuối tuần này, nhưng chưa đưa ra quyết định cuối cùng.
Sau nhiều năm âm thầm thu thập thông tin tình báo điện tử từ đối thủ, Cơ quan Trinh sát Quốc gia Mỹ (NRO) cuối cùng cũng đã giải mật, tiết lộ thứ này.
Na Uy ký hợp đồng trị giá 922 triệu USD mua hệ thống pháo phản lực Chunmoo để nâng cao năng lực quốc phòng và NATO tại Bắc Âu.
Từ một vũ khí tấn công tưởng như “rất bình thường”, nhưng Nga đã biến UAV tấn công tự sát Shahed-136 của Iran thành vũ khí tấn công chủ lực, đó chính là Geran.
Máy bay EA-18G Growler và F-35C hoạt động từ USS Abraham Lincoln, phản ánh chiến lược đối phó Iran và chuẩn bị cho xung đột tiềm năng.
Liên minh NATO tiến hành huấn luyện và triển khai lực lượng trong môi trường băng giá để duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu ở khu vực chiến lược Bắc Cực.
Các nhà thầu quân sự phương Tây giúp Ukraine vận hành hệ thống Patriot, tên lửa Storm Shadow và duy trì lực lượng F-16, phản ánh chiến tranh hiện đại.
MQ-20 Avenger thể hiện khả năng tự chủ cao, đánh chặn mục tiêu thực tế, mở ra bước tiến lớn trong công nghệ máy bay không người lái AI.
Hệ thống phòng không Piorun của Ba Lan được nhiều quốc gia như Ukraine, Na Uy, Bỉ tin dùng để chống UAV và mục tiêu bay thấp.
Không quân Ukraine khẳng định không có phi đội đa quốc gia hoạt động, chỉ hỗ trợ qua đào tạo, vũ khí và kỹ thuật để bảo vệ đất nước.
Bên cạnh việc tăng cường khả năng sống sót, BMP-3 mới còn trang bị hệ thống tác chiến điện tử, giúp Nga duy trì ưu thế trong chiến dịch Ukraine.
Không quân Mỹ lần đầu vận chuyển thành công lò phản ứng Ward250 bằng C-17, mở ra khả năng cung cấp điện linh hoạt cho căn cứ chiến lược.
Công nghệ của Kodiak AI cho phép vận hành tự động ROGUE-Fires, giảm rủi ro và tăng tốc độ triển khai cho lực lượng thủy quân.
Việc nhận thêm tiêm kích Su-30SM2 giúp Belarus tăng cường khả năng phòng thủ, hợp tác chặt chẽ với hệ thống phòng không S-400 trong chiến lược quốc phòng.
Nga đã trang bị cho robot mặt đất đa năng Depesha các "quạt" quay và lưới thép nhằm tăng cường khả năng phòng thủ trước máy bay không người lái.