Không phải người lao động nào cũng phải chờ đến tuổi nghỉ hưu thông thường mới được hưởng lương hưu. Theo thông tin trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có Nghị định 158/2025/NĐ-CP, quy định một số trường hợp được nghỉ hưu trước tuổi khi đáp ứng các điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội (BHXH), đặc thù nghề nghiệp hoặc mức suy giảm khả năng lao động.
Những trường hợp được nghỉ hưu sớm tối đa 5 năm
Thứ nhất, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Người lao động phải có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc và có từ đủ 15 năm làm nghề, công việc thuộc danh mục nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định.
Trường hợp đáp ứng điều kiện nghỉ hưu theo diện này, tỷ lệ hưởng lương hưu không bị giảm do nghỉ trước tuổi.
Thứ hai, nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non.
Theo Luật Nhà giáo số 73/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, nhà giáo trong cơ sở giáo dục mầm non có nguyện vọng nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện bình thường, nhưng không quá 5 tuổi, và có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc thì thuộc diện được xem xét hưởng chính sách nghỉ hưu trước tuổi theo quy định. Tỷ lệ hưởng lương hưu không bị giảm do nghỉ trước tuổi.
Thứ ba, người suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%.
Người lao động có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến dưới 81%, có thể nghỉ hưu trước tuổi tối đa 5 năm khi đáp ứng các điều kiện theo quy định. Trường hợp nghỉ hưu theo diện suy giảm khả năng lao động, tỷ lệ hưởng lương hưu bị giảm theo quy định.
Những trường hợp được nghỉ hưu sớm tối đa 10 năm
Thứ nhất, người làm công việc khai thác than trong hầm lò.
Người lao động có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc và có từ đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò có thể nghỉ hưu trước tuổi tối đa 10 năm nếu đáp ứng các điều kiện luật định. Tỷ lệ hưởng lương hưu không bị giảm do nghỉ trước tuổi theo diện này.
Thứ hai, người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.
Người lao động có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc, bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, có thể nghỉ hưu trước tuổi tối đa 10 năm nếu đáp ứng đủ điều kiện. Trường hợp nghỉ hưu theo diện suy giảm khả năng lao động, tỷ lệ hưởng lương hưu được tính theo quy định tại Điều 66 Luật BHXH năm 2024, bao gồm mức giảm do nghỉ trước tuổi.
Những trường hợp không giới hạn độ tuổi nghỉ hưu
Thứ nhất, người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
Người lao động có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc, bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao, thuộc trường hợp không quy định giới hạn tuổi nghỉ hưu theo điều kiện này.
Thứ hai, người có thời gian làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động.
Người lao động có từ đủ 20 năm đóng BHXH bắt buộc trở lên, trong đó có từ đủ 15 năm làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, thuộc diện được xem xét nghỉ hưu theo quy định tại Điều 65 Luật BHXH năm 2024.
Đối với trường hợp nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động, tỷ lệ hưởng lương hưu được điều chỉnh theo thời gian nghỉ trước tuổi: mỗi năm nghỉ trước tuổi giảm 2%; nghỉ trước dưới 6 tháng không giảm tỷ lệ hưởng lương hưu; nghỉ trước từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng giảm 1%.
Năm 2026, tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường là 61 tuổi 6 tháng đối với nam và 57 tuổi đối với nữ. Tuổi nghỉ hưu cụ thể cần được xác định căn cứ vào tháng, năm sinh, thời điểm nghỉ hưu và các điều kiện áp dụng đối với từng nhóm lao động.
Người lao động cần đối chiếu đầy đủ thời gian đóng BHXH, quá trình làm việc, mức suy giảm khả năng lao động và các quy định liên quan để xác định mình có thuộc diện nghỉ hưu trước tuổi hay không, đồng thời xác định chính xác quyền lợi lương hưu được hưởng.