Thành cổ Quảng Trị - từ lịch sử, điện ảnh đến biểu tượng bất tử về người lính

Từ 81 ngày đêm khốc liệt năm 1972, qua sự tái hiện của điện ảnh, Thành cổ Quảng Trị đã trở thành biểu tượng bất tử về người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12 – ký ức về những năm tháng chiến tranh lại được nhắc nhở như một phần không thể tách rời của lịch sử dân tộc. Trong tinh thần trân trọng lịch sử ấy, sự thành công của bộ phim điện ảnh Mưa Đỏ đã góp phần làm sống dậy hình ảnh Thành cổ Quảng Trị, không chỉ như một di tích lịch sử, mà như một biểu tượng bất tử về người Bộ đội Cụ Hồ, nơi quá khứ, hiện tại và cảm xúc đương đại giao thoa sâu sắc.

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Thành cổ Quảng Trị gắn liền với cuộc chiến đấu 81 ngày đêm mùa hè năm 1972 – một trong những trận chiến khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trên diện tích chưa đầy 3 ha, bom đạn dội xuống với mật độ dày đặc đã biến Thành cổ thành chiến trường ác liệt bậc nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, mang theo lý tưởng giải phóng dân tộc và khát vọng thống nhất đất nước. Chính từ những hy sinh ấy, phẩm chất cao đẹp của Quân đội Nhân dân Việt Nam – trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc – được hun đúc và tỏa sáng.

Thành cổ Quảng Trị trong phim "Mưa đỏ". Ảnh: Đoàn làm phim Mưa đỏ.

Trong nhiều năm, ký ức về Thành cổ Quảng Trị chủ yếu được lưu giữ qua tư liệu lịch sử, sách báo và những nghi lễ tưởng niệm trang nghiêm vào các ngày lễ lớn, trong đó có ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Tuy nhiên, với Mưa Đỏ, lịch sử ấy được tiếp cận bằng một con đường mới: Điện ảnh. Bộ phim không chỉ tái hiện một chiến trường khốc liệt, mà còn đặt con người – những người lính cụ thể – vào trung tâm của câu chuyện. Qua đó, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hiện lên vừa anh dũng, vừa rất đỗi đời thường, với nỗi sợ mang tính bản năng trước cái chết, tình đồng đội và những ước mơ còn dang dở.

Điện ảnh đã giúp Thành cổ Quảng Trị vượt ra khỏi khuôn khổ của một không gian lịch sử tĩnh. Những bức tường thành đổ nát, những hào nước đầy mảnh cơ thể người, những cơn “mưa đỏ” - màu đỏ của bùn đất và cả màu đỏ của máu - trong phim tạo nên một trải nghiệm cảm xúc mạnh mẽ. Người xem, đặc biệt là thế hệ trẻ sinh ra trong hòa bình, có cơ hội cảm nhận trực quan cái giá của độc lập, tự do – điều mà các chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đánh đổi bằng máu xương suốt chiều dài lịch sử hình thành và đấu tranh của mình.

Thành cổ Quảng Trị ngày nay. Ảnh: Quốc Lê.

Từ điểm nhìn của ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12, Mưa Đỏ có thể được xem như một hình thức tri ân hiện đại đối với các thế hệ cha anh. Nếu trước đây, hình ảnh người Bộ đội Cụ Hồ thường gắn với những trang sách sử hoặc các lễ kỷ niệm mang tính biểu tượng, thì điện ảnh đã mang lại một cách tưởng nhớ giàu cảm xúc hơn, gần gũi hơn. Thành cổ Quảng Trị trong phim trở thành biểu trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí kiên cường và sự hy sinh thầm lặng – những giá trị cốt lõi làm nên truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Quan trọng hơn, sự lan tỏa của bộ phim cho thấy Thành cổ Quảng Trị không chỉ là một hình ảnh thuộc về quá khứ. Khi được kể lại bằng ngôn ngữ nghệ thuật phù hợp với thời đại, lịch sử tiếp tục đối thoại với hiện tại. Những giọt nước mắt trong rạp chiếu phim, những cuộc trò chuyện của người trẻ sau khi xem phim, hay những chuyến hành hương về Thành cổ vào dịp 22/12 cho thấy hình tượng người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn còn nguyên sức lan tỏa trong đời sống tinh thần xã hội đương đại.

Có thể nói, từ 81 ngày đêm khốc liệt của lịch sử, qua sự tái hiện của điện ảnh, Thành cổ Quảng Trị đã trở thành một biểu tượng bất tử về người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Nhân ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12, hướng về Thành cổ không chỉ để tưởng niệm những người đã ngã xuống, mà còn để nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình, của độc lập, và về trách nhiệm gìn giữ, tiếp nối những phẩm chất cao đẹp mà người chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã để lại cho lịch sử dân tộc.

Quy tập hai bộ hài cốt liệt sỹ kèm di vật thời chiến tại Khe Sanh

Cùng với hai bộ hài cốt liệt sĩ, đội công tác tìm thấy nhiều di vật như tăng nguyên tấm, vải dù, dây dù, cúc áo, đế giày, khuy giày, mắt nịt, nắp hộp dầu...

Chiều 2/11, Đoàn Kinh tế - Quốc phòng 337 (Quân khu 4) cho biết đơn vị đã phát hiện và quy tập được 2 hài cốt liệt sĩ tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị. Cụ thể, trong khoảng thời gian từ ngày 21/10 đến 2/11, Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ tiến hành tìm kiếm tại thôn Xa Re, xã Khe Sanh và cất bốc được 2 hài cốt ở độ sâu từ 0,8 đến 1 mét.

Các hài cốt được phát hiện vẫn được bọc trong bao tử sĩ, bên trong còn nhiều mảnh xương. Cùng với đó, đội công tác tìm thấy nhiều di vật như tăng nguyên tấm, vải dù, dây dù, cúc áo, đế giày, khuy giày, mắt nịt, nắp hộp dầu, lọ thủy tinh và dây thông tin.

Không có số lùi, tuổi 20 của những nữ lái xe vượt lửa Trường Sơn

Giữa mưa bom, bão đạn, Trung đội nữ lái xe Trường Sơn đã hoàn thành hàng nghìn chuyến xe với hàng vạn tấn hàng hóa, vận chuyển hàng trăm ngàn lượt bộ đội và thương binh... góp phần làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.

Giữa tuyến lửa Trường Sơn huyền thoại, nơi "mưa bom bão đạn" tưởng chừng chỉ dành cho những tay lái gang thép, có một đơn vị đặc biệt đã đi vào lịch sử - Trung đội nữ lái xe mang tên anh hùng lực lượng vũ trang Nguyễn Thị Hạnh (sau là Đại đội nữ lái xe Trường Sơn C13) - đại đội nữ lái xe duy nhất của quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tăng M24 - “mãnh thú” của Pháp bị bộ đội ta chặt móng vuốt

Từng là niềm tự hào của quân đội Pháp với hỏa lực mạnh và tốc độ linh hoạt, xe tăng M24 Chaffee được kỳ vọng sẽ xoay chuyển cục diện tại Điện Biên Phủ.

Tăng M24 - “mãnh thú” của Pháp bị bộ đội ta chặt móng vuốt như thế nào?

Các tướng lĩnh Pháp hiểu rõ đối thủ chỉ là lực lượng bộ binh nhẹ, thiếu thốn vũ khí và hoàn toàn không có phương tiện chiến đấu cơ giới. Họ tin rằng nếu đưa được lực lượng xe thiết giáp lên cụm cứ điểm, Việt Minh sẽ bị chặn đứng nếu dám tấn công vào các lô cốt vững chắc, sau đó sẽ bị quân Pháp tinh nhuệ có thiết giáp hỗ trợ đẩy lui.

Nhưng xe thiết giáp bánh lốp phổ biến trong biên chế quân viễn chinh Pháp khi đó gặp khó khăn khi di chuyển trên địa hình bùn lầy tại Điện Biên Phủ, đặc biệt trong mùa mưa. Chỉ có xe tăng bánh xích mới có đủ tính cơ động. Điều này khiến xe tăng hạng nhẹ M24 do Mỹ viện trợ trở thành lựa chọn tối ưu cho Pháp ở Mặt trận Điện Biên Phủ.

Ra đời vào cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, xe tăng M24 “Chaffee” của Mỹ được ưa chuộng do cơ động tốt trên địa hình phức tạp, hỏa lực mạnh so với xe tăng hạng nhẹ khi mang pháo cỡ nòng 75mm, rất hiệu quả trong nhiệm vụ chi viện hỏa lực cho bộ binh.

Tang M24 - “manh thu” cua Phap bi bo doi ta chat mong vuot

Binh lính Pháp dỡ thân xe tăng M24 khỏi một chiếc Bristol 170 Freighter tại Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu

Kíp lái của xe tăng M24 gồm 5 người. Khi chiến đấu, trưởng xe, pháo thủ và điện đài viên có thể tham gia chế áp bộ binh do xe mang đến 3 súng máy. Với hỏa lực mạnh như vậy, người Pháp cho rằng xe tăng M24 là đủ để đẩy lui các đợt tấn công xuống lòng chảo của quân đội Việt Minh.

Ngày 16/12/1953, chiến dịch “Rondelle II” được Pháp tiến hành, sử dụng không quân đưa 10 xe tăng M24 lên Điện Biên Phủ. Số xe tăng này chia thành 3 phân đội của đại đội 3, thuộc trung đoàn kỵ binh nhẹ số 1. Binh lính trong binh đoàn lê dương Pháp đặt tên cho những chiếc xe tăng này theo các địa danh ở châu Âu, như một cách để nhớ về quê nhà.

Do mỗi chiếc xe tăng nặng tới gần 20 tấn, không máy bay nào của Pháp lúc đó đủ không gian và tải trọng để mang nổi. Binh lính của đại đội 2 sửa chữa thiết giáp, thuộc binh đoàn lê dương phải tháo rời từng chiếc xe thành 180 bộ phận khác nhau tại xưởng dã chiến ngay trong sân bay Gia Lâm (Hà Nội).

Tuy nhiên, kể cả sau khi đã tháo rời, máy bay vận tải C-47 của không quân Pháp lúc đó không đủ chỗ để vận chuyển thân xe-phần có kích thước to lớn nhất. Người Pháp phải trưng dụng máy bay vận tải dân sự hạng nặng Bristol 170 Freighter, nhưng khối lượng thân xe vẫn vượt quá tải trọng tối đa của máy bay đến 150kg. Để chở “kiện hàng” đặc biệt qua vùng rừng núi Tây Bắc, người Pháp phải tháo bỏ gần như toàn bộ những nội thất không cần thiết bên trong máy bay. Mỗi chiếc M24 cần tới 2 chuyến Freighter và 6 chuyến C-47 để đưa lên Điện Biên Phủ.

Tới cuối năm 1953, toàn bộ 10 chiếc M24 được vận chuyển thành công lên cụm cứ điểm. Chúng có nhiệm vụ dẫn đầu các đơn vị quân đội Pháp phản công hoặc bố trí trong công sự như lô cốt, dùng đạn pháo 75mm nổ mảnh và súng máy bắn yểm trợ. Với việc bố trí thành công lực lượng xe thiết giáp có sức cơ động và hỏa lực cực mạnh này, người Pháp tin rằng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là bất khả xâm phạm và quân đội Việt Minh đã thua trước cả khi trận đánh diễn ra.

Trong suốt chiến dịch, 10 chiếc xe tăng M24 đã bắn tổng cộng hơn 15.000 phát đạn pháo. Do mỗi xe chỉ mang 48 viên đạn, binh lính Pháp tìm cách nhét đạn vào mọi vị trí có thể trên xe, thậm chí tháo bỏ cả súng máy. Nhưng những nỗ lực phản công do xe tăng M24 dẫn đầu đã không đạt được bước tiến nào đáng kể do đánh giá thấp lượng pháo Việt Minh mang đến chiến trường.

Tang M24 - “manh thu” cua Phap bi bo doi ta chat mong vuot-Hinh-2

Xe tăng M24 mang tên Charfee, do các hãng sản xuất vũ khí Mỹ chế tạo. Dòng xe này được đặt tên theo tên của Thiếu tướng Lục quân Mỹ Adna R. Chaffee, Jr., người được mệnh danh là "Cha đẻ của lực lượng thiết giáp Mỹ”. Ảnh Tuấn Anh- báo Sức khỏe đời sống

Quân Pháp đối mặt với hệ thống hầm hào dày đặc, kiên cố. Những nỗ lực phản công của Pháp biến thành tấn công vào các vị trí được phòng thủ vững chắc, có vũ khí chống tăng uy hiếp những chiếc tăng M24. Thất bại trong việc phản công, lúc này “nắm đấm thép” của quân Pháp như chỉ còn đấm vào không khí.

Sau khi vòng vây siết chặt đến phân khu trung tâm Mường Thanh, số xe tăng M24 phần bị bắn hỏng, phần không còn nơi để cơ động, chỉ còn tác dụng làm ổ đề kháng cố định. Nhưng ngay cả khi trú ẩn trong công sự, pháo của Việt Minh vẫn bắn chính xác vào vị trí từng chiếc xe. Toàn bộ số xe tăng M24 bị loại khỏi vòng chiến đấu hoặc bị thu làm chiến lợi phẩm khi trận chiến kết thúc.

Sau chiến thắng, bộ đội ta tổ chức một chiến dịch khác, vận chuyển hai chiếc M24 còn hoạt động được về Hà Nội. Lần này, hai chiếc xe tăng lại được tháo rời, đưa về trên xe tải, sau đó được lắp ráp lại và tham gia diễu binh ngày 2/9/1955, kỷ niệm 10 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Đọc nhiều nhất

Tin mới