GS.TS Phạm Tất Dong: Đừng để nghiên cứu khoa học phổ thông biến thành bản copy

GS.TS Phạm Tất Dong chỉ ra 3 câu hỏi then chốt về tính liêm chính đối với Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật dành cho học sinh THCS và THPT.

Những ngày qua, dư luận xôn xao trước những nghi vấn về tính liêm chính tại cuộc thi Nghiên cứu khoa học (NCKH) kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2025–2026.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, GS.TS Phạm Tất Dong, nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, những biểu hiện gây tranh cãi vừa qua không phải là hiện tượng cá biệt, mà phản ánh những bất cập mang tính hệ thống trong việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông.

Nếu không được nhìn nhận một cách nghiêm túc và điều chỉnh kịp thời, tình trạng này không chỉ làm sai lệch bản chất của nghiên cứu khoa học mà còn tiềm ẩn nguy cơ hình thành tư duy thiếu trung thực trong học sinh.

thay-dong.png
GS.TS Phạm Tất Dong. Ảnh: USSH.

3 câu hỏi cho sự liêm chính

Theo GS.TS Phạm Tất Dong, để bảo đảm tính liêm chính, chất lượng và hiệu quả của một công trình khoa học, cần trả lời ba câu hỏi quan trọng.

Thứ nhất, điều kiện cơ sở kỹ thuật có được bảo đảm hay không. Không có điều kiện thì không thể nghiên cứu "chay", đặc biệt trong khoa học công nghệ. Thứ hai, người hướng dẫn là ai, có đủ trình độ chuyên môn để dẫn dắt nghiên cứu hay không? Thứ ba, người thực hiện là ai? Những câu hỏi này mang tính then chốt, quyết định trực tiếp đến chất lượng của một đề tài nghiên cứu.

Theo GS Dong, ngay cả với các học viên cao học hay nghiên cứu sinh, việc lựa chọn và triển khai đề tài cũng phải được cân nhắc rất kỹ lưỡng.

“Trong kinh nghiệm hướng dẫn nghiên cứu sinh, ngay buổi làm việc đầu tiên, tôi luôn đặt câu hỏi: Vì sao lại chọn đề tài này? Đề tài đó đã có bao nhiêu người nghiên cứu? Phần việc còn lại là gì, hay người sau lại đi làm lại phần mà người trước đã làm rồi?”, ông nói.

Theo ông, trong nghiên cứu khoa học, việc “làm lại cái cũ” là điều cần tránh, trừ khi có cách tiếp cận mới hoặc phát hiện mới.

Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng người làm nghiên cứu cần có cái nhìn tổng quan về lĩnh vực mình theo đuổi, nắm được các công trình đã có trong và ngoài nước. Ít nhất phải biết có bao nhiêu người đã nghiên cứu vấn đề đó. Từ đó mới xác định được ‘khoảng trống’ để tiếp tục nghiên cứu.

Nếu không trả lời được những câu hỏi căn bản này, việc tổ chức các cuộc thi khoa học kỹ thuật trong trường phổ thông rất dễ rơi vào hình thức, thiếu thực chất, thậm chí phát sinh tiêu cực.

Dấu hỏi lớn về tính trung thực và liêm chính

GS Nguyễn Tất Dong khẳng định, với trình độ và điều kiện của trường phổ thông, học sinh khó có thể thực hiện các bộ hồ sơ nghiên cứu hoàn chỉnh, bao gồm thống kê số liệu, phân tích, so sánh hay tạo ra sản phẩm khoa học đúng nghĩa. Tuy nhiên, thực tế, nhiều công trình đoạt giải lại thể hiện sự “vượt quá khả năng” này.

Ông lấy ví dụ về một đề tài “chế tạo thuốc chữa ung thư” từng được giới thiệu là thành công trong một trường phổ thông.

Theo ông, chỉ riêng quy trình nghiên cứu và bào chế thuốc đã là một quá trình cực kỳ phức tạp, đòi hỏi điều kiện phòng thí nghiệm hiện đại, quy trình kiểm nghiệm nghiêm ngặt và nhiều giai đoạn thử nghiệm, trên động vật, trên người. Vì thế, việc một học sinh phổ thông tự làm ra thuốc và khẳng định hiệu quả là điều “không tưởng”.

“Trường phổ thông không có phòng thí nghiệm đạt chuẩn, không có điều kiện nuôi động vật thí nghiệm, càng không thể triển khai các nghiên cứu liên quan đến con người. Vậy thì những kết quả đó từ đâu ra?”, ông đặt vấn đề.

Ông Dong cho biết, có đề tài ông đọc thì thấy dịch lại gần như nguyên xi từ tài liệu của một tác giả nước ngoài. Nếu không phát hiện kịp thời mà vẫn trao giải thì rất nguy hiểm.

Ông Dong kể lại chính trải nghiệm của mình trong thời gian làm nghiên cứu sinh tại Nga. Suốt 4 năm ròng rã, gần như chỉ tập trung cho việc học và nghiên cứu, từ sáng vào nhà máy, thư viện đến tối về tổng hợp, viết lại.

“Tôi làm trong điều kiện như vậy mà còn thấy chưa thật sự yên tâm về độ chính xác của số liệu, thì học sinh phổ thông không thể làm trong vài tháng lại có thể cho ra một đề tài khoa học hoàn chỉnh, có độ tin cậy cao được”, ông nói.

Ngoài ra, theo ông Dong, nghiên cứu khoa học bắt buộc phải có người hướng dẫn đủ năng lực chuyên môn. Thực tế ở trường phổ thông, giáo viên phần lớn chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiên cứu khoa học nên khó có thể đảm nhiệm vai trò này.

Từ đó, ông cho rằng những đề tài được công bố với quy mô, chất lượng vượt xa khả năng thực tế của học sinh phổ thông là điều vô lý, từ đó đặt ra dấu hỏi lớn về tính trung thực và liêm chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học hiện nay.

Có thể xem xét dừng cuộc thi

Theo GS.TS Phạm Tất Dong, nghiên cứu khoa học là con đường đòi hỏi nỗ lực bền bỉ, không thể làm trong thời gian ngắn. Ngay cả người làm khoa học chuyên nghiệp cũng phải ngày đêm đọc tài liệu, tra cứu, thử nghiệm mà còn chưa chắc có kết quả. Vì thế, việc học sinh phổ thông vừa học, vừa thi, lại có thể làm đề tài trong vài tháng thì rất khó thuyết phục. Thực trạng này phản ánh rõ “bệnh thành tích” trong giáo dục, dễ dẫn đến hệ quả tiêu cực.

“Nếu cứ làm như vậy, một là vô tình xúi học sinh đi sao chép, biến các em thành ‘người ăn cắp’ công trình của người khác, tức là bất liêm chính. Hai là khiến các em hiểu sai rằng làm khoa học đơn giản, dễ dàng, như làm một việc bình thường, trong khi thực tế đó là quá trình rất gian khổ”, ông thẳng thắn bày tỏ.

Từ những phân tích trên, GS Dong cho rằng cần xem xét lại việc tổ chức các cuộc thi khoa học kỹ thuật trong trường phổ thông. Thay vì triển khai dàn trải, nên xây dựng các “vườn ươm khoa học” với đầy đủ điều kiện, có sự tham gia của các nhà khoa học, chuyên gia để hỗ trợ những học sinh thực sự có năng khiếu.

“Trường phổ thông không thể làm nghiên cứu chuyên sâu. Nếu muốn phát triển năng lực khoa học cho học sinh, phải có môi trường phù hợp, có người hướng dẫn đúng nghĩa và có đủ điều kiện kỹ thuật”, GS.TS Phạm Tất Dong nói.

>>> Mời độc giả xem thêm video Thủ tướng đặt hàng chuyên gia, trí thức kiều bào thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ:

(Nguồn: Nhân Dân)

TS Nguyễn Đình Uyên- từ kỹ sư NASA đến công nghệ cho nông dân Việt

Với khát vọng cống hiến, TS Nguyễn Đình Uyên đã rời bỏ vị trí kỹ sư tại NASA để trở về Việt Nam, ứng dụng những giải pháp công nghệ hiện đại vào đồng ruộng.

Trong dịp TP HCM kỷ niệm chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, TS Nguyễn Đình Uyên, giảng viên Khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TP HCM là một trong 9 nhà giáo được vinh danh vì những đóng góp lớn lao.

Nhiều năm làm việc tại NASA, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ, năm 2008 ông đã khiến nhiều người bất ngờ khi quyết định trở về Việt Nam giảng dạy, theo đuổi con đường ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp.

PGS.TS Bùi Thế Duy, từ học sinh A0 tới tân Giám đốc ĐH Quốc gia Hà Nội

Tân Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội Bùi Thế Duy là cựu học sinh A0, hai lần giành huy chương đồng Olympic Tin học quốc tế.

Sáng 31/3, tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính trao quyết định điều động, bổ nhiệm PGS.TS Bùi Thế Duy, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, giữ chức Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Lời hứa người đứng đầu

PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp với sáng chế keo sinh học chữa lành vết thương

PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp đã từng bước tạo dựng vị thế khoa học bằng những công trình có khả năng ứng dụng thực tiễn, vươn tầm thế giới.

“Làm sao để người dân ở vùng sâu vùng xa có thể cầm máu kịp thời khi chưa đến được trạm y tế?”, nỗi trăn trở rất thực tế này là khởi nguồn cho công trình keo sinh học của PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp, Trưởng khoa Kỹ thuật Y sinh tại Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TP HCM. Sáng chế này đã giúp PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp trở thành 1 trong 15 nhà khoa học nữ trẻ tài năng của thế giới do L’Oréal – UNESCO vinh danh năm 2018.

nguyen-thi-hiep.jpg
PGS.TS Nguyễn Thị Hiệp. Ảnh: vwu.

Đọc nhiều nhất

Tin mới

VUSTA khơi dậy khát vọng trí thức trong kỷ nguyên mới

VUSTA khơi dậy khát vọng trí thức trong kỷ nguyên mới

Trải qua 43 năm xây dựng và trưởng thành (1983-2026), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã khẳng định vững chắc vị thế là tổ chức đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ cả nước.