Vị giáo sư 21 ngày học công nghệ Nhật, làm vắc xin cứu hàng triệu trẻ em

Chỉ với 21 ngày học công nghệ tại Nhật Bản, GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên đã góp phần làm chủ vaccine viêm não Nhật Bản, bảo vệ hàng triệu trẻ em Việt Nam.

TTND.GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên là một trong những gương mặt tiêu biểu của y học dự phòng Việt Nam. Dấu ấn lớn nhất của bà là nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ và sản xuất thành công vắc xin viêm não Nhật Bản trong nước, sau đó tiếp tục theo đuổi thế hệ vắc xin mới trên tế bào vero, góp phần đưa Việt Nam vào nhóm ít quốc gia làm chủ công nghệ này.

gs-huynh-thi-phuong-lien.jpg
TTND.GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên đã chuyển giao thành công công nghệ vắc xin viêm não Nhật Bản thế hệ 1 đã cứu sống hàng chục triệu trẻ em Việt Nam. Ảnh: Tư liệu VABIOTECH. Nguồn: vietnam.vnanet.vn.

Cuộc chạy đua với công nghệ vắc xin viêm não Nhật Bản

Những năm 1980, bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là một trong những nỗi ám ảnh lớn của ngành y tế Việt Nam. Đây là bệnh nhiễm trùng cấp tính hệ thần kinh trung ương do virus gây ra, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và thường để lại hậu quả đặc biệt nặng nề đối với trẻ em. Không ít bệnh nhi sau khi vượt qua cơn nguy kịch vẫn phải mang theo di chứng suốt đời như liệt cứng, rối loạn tâm thần hoặc sống thực vật. Đằng sau mỗi ca bệnh là nỗi đau của một gia đình, là gánh nặng kéo dài đối với cộng đồng và xã hội.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu và sản xuất được vắc xin VNNB để chủ động phòng bệnh trở thành nhiệm vụ cấp bách. Đây được xem là giải pháp hiệu quả nhất nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tử vong và các di chứng thần kinh nghiêm trọng.

Tháng 5/1989, TS Huỳnh Thị Phương Liên, khi đó là Trưởng khoa Virus của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, cùng cử nhân sinh học Đoàn Thị Thủy nhận trọng trách sang Nhật Bản học quy trình sản xuất vắc xin. Tại Viện Biken thuộc Đại học Osaka, phía Nhật Bản quy định khóa đào tạo kéo dài 12 tháng mới đủ để tiếp nhận đầy đủ quy trình gồm 28 công đoạn kỹ thuật phức tạp. Thế nhưng do điều kiện kinh phí hạn hẹp, đoàn Việt Nam chỉ được cấp kinh phí học tập trong vòng một tháng.

Một tháng trên giấy tờ, nhưng sau khi trừ các ngày nghỉ cuối tuần và ngày lễ, thời gian thực tế mà TS. Liên có mặt trong phòng thí nghiệm chỉ còn vỏn vẹn 21 ngày. Đó là khoảng thời gian mà bà và đồng nghiệp gần như không cho phép mình lãng phí dù chỉ một phút. Mỗi thao tác kỹ thuật, mỗi quy trình kiểm định, mỗi thông số vận hành đều được ghi chép cẩn thận. Các chuyên gia Nhật Bản khi ấy khó có thể tin rằng những nhà khoa học Việt Nam lại có thể tiếp thu một công nghệ phức tạp trong khoảng thời gian ngắn đến như vậy.

Trở về nước, TS. Huỳnh Phương Liên bắt tay ngay vào quá trình tái tạo toàn bộ quy trình sản xuất trong điều kiện cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn. Không có sẵn trang thiết bị hiện đại, nhiều công đoạn phải được nghiên cứu, điều chỉnh và thử nghiệm lại để phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Hàng loạt thí nghiệm được tiến hành nhằm lựa chọn phương án tối ưu, bảo đảm hiệu quả và tính khả thi trong sản xuất.

Đó là quãng thời gian đầy thử thách của những người làm khoa học. Nhưng bằng sự kiên trì, quyết tâm và niềm say mê nghiên cứu, TS Liên cùng các đồng nghiệp đã từng bước vượt qua mọi khó khăn. Chỉ sau một năm, năm lô vắc xin VNNB sản xuất đầu tiên đã hoàn thành toàn bộ các thử nghiệm theo quy chuẩn kỹ thuật.

Năm 1991, GS Suzuki, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đề nghị gửi lô vắc xin thứ tư và thứ năm sang Nhật Bản để kiểm nghiệm độc lập. Ba tháng sau, kết quả gửi về mang đến niềm vui lớn cho các nhà khoa học Việt Nam.

Trong thư gửi GS Hoàng Thủy Nguyên, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, các chuyên gia Nhật Bản khẳng định vắc xin viêm não Nhật Bản của Việt Nam đạt đầy đủ 10 tiêu chuẩn chất lượng của Nhật Bản, có đáp ứng kháng thể đạt 100%, độ tinh khiết cao và mức độ an toàn rất tốt.

"“Các chuyên gia Nhật Bản đã chúc mừng chúng tôi trong niềm hạnh phúc vỡ òa”, TTND.GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên nhớ lại.

Thành công đó đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ tư ở châu Á, cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc và Thái Lan, làm chủ công nghệ sản xuất vắc xin VNNB bất hoạt từ não chuột, công nghệ duy nhất được WHO công nhận vào thời điểm bấy giờ.

Năm 1997, vắc xin VNNB của Việt Nam đạt tiêu chuẩn của WHO và được Bộ Y tế chính thức đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng.. Đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh này ở trẻ em Việt Nam giảm chỉ còn 5 - 10%/năm. Đặc biệt, giá thành của vắc xin này chỉ bằng 20% giá thành vắc xin nhập khẩu. Hàng chục triệu trẻ em đã được cứu sống.

Từ thành quả trong phòng thí nghiệm, vắc xin nhanh chóng được sản xuất ở quy mô công nghiệp, với công suất khoảng 350.000 liều mỗi loạt, đáp ứng nhu cầu trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu.

Chinh phục công nghệ vắc xin viêm não Nhật Bản thế hệ mới

Cuối năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến cáo các nước chuyển dần từ công nghệ sản xuất vắc xin viêm não Nhật Bản từ não chuột sang công nghệ sản xuất trên tế bào vero. Trước yêu cầu đó, từ năm 2006, GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên cùng các cộng sự bắt đầu nghiên cứu vắc xin viêm não Nhật Bản thế hệ 2.

Đây là một quá trình nghiên cứu kéo dài và nhiều thách thức. Trong 6 năm, từ 2006 đến 2011, nhóm nghiên cứu tự xây dựng và hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt trên tế bào vero. Sau đó, vắc xin tiếp tục trải qua 6 năm thử nghiệm lâm sàng trên người, từ năm 2013 đến năm 2018.

Năm 2010, khi bước sang tuổi 70 và nghỉ hưu theo chế độ, GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên vẫn tiếp tục làm việc với vai trò chuyên gia nghiên cứu. Bà trực tiếp tham gia chỉ đạo chuyên môn, theo dõi quá trình hoàn thiện công nghệ và đánh giá kết quả thử nghiệm lâm sàng.

Kết quả nghiên cứu cho thấy vắc xin JECEVAX đạt tính an toàn cao, dung nạp tốt trên người lớn và trẻ em từ 9 đến 24 tháng tuổi. Thử nghiệm trên 1.140 đối tượng cho thấy tỷ lệ đáp ứng miễn dịch đạt từ 99,6% đến 100%, không thua kém các vắc xin cùng loại của các nhà sản xuất quốc tế như Intercell (Áo) và Nhật Bản.

Tháng 1/2019, công trình được nghiệm thu cấp Nhà nước, đánh dấu việc Việt Nam làm chủ thành công công nghệ sản xuất vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt trên tế bào vero. Thành tựu này đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ tư trên thế giới sở hữu công nghệ sản xuất loại vắc xin này, mở ra triển vọng chủ động nguồn vắc xin chất lượng cao phục vụ công tác phòng chống bệnh viêm não Nhật Bản trong nước.

Cuộc đời sinh ra để nghiên cứu vắc xin

GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên sinh năm 1940, quê ở Hội An (Quảng Nam). Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, bà tình nguyện trở về Khu V tham gia kháng chiến và được phân công làm chuyên khoa vi sinh. Trong điều kiện chiến trường, bà cùng đồng nghiệp tham gia nghiên cứu, sản xuất các vắc xin tả, thương hàn, đậu mùa phục vụ công tác phòng dịch.

Những năm sau đó, công việc của bà gắn chặt với phòng thí nghiệm virus học: viêm não Nhật Bản, sốt xuất huyết, sởi, rubella, cúm… Bà từng là nguyên Trưởng khoa Virus, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương.

"Có lẽ tôi sinh ra là để nghiên cứu vắc xin", GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên từng tâm sự. Với bà, phần thưởng lớn nhất không nằm ở những danh hiệu hay giải thưởng, mà là việc các loại vắc xin do người Việt nghiên cứu đã góp phần bảo vệ sức khỏe cho hàng triệu người dân.

Ở tuổi 86, GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên vẫn hỗ trợ các đồng nghiệp trẻ nâng tầm công nghệ sản xuất vắc xin viêm não Nhật Bản.

Ghi nhận những đóng góp không mệt mỏi của GS.TS Huỳnh Thị Phương Liên, Nhà nước đã tặng bà danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới năm 2020.

Trước đó, bà đã được Giải thưởng Nhà nước về Khoa học công nghệ và được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (2000) và hạng Hai (2005). Được Nhà nước công nhận Chức danh Giáo sư (1996), Danh hiệu Thầy thuốc Nhân dân (2000).

PGS.TS Nguyễn Thị Trâm: Chuyện chưa kể phía sau giống lúa 'nửa giải Nobel'

Năm 2008, giống lúa TH3-3 của PGS.TS Nguyễn Thị Trâm được chuyển nhượng với giá 10 tỷ đồng, mở ra câu chuyện đặc biệt về khoa học và thị trường.

Tháng 6/2008, PGS.TS, Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm đã tạo nên dấu mốc đặc biệt cho khoa học nông nghiệp Việt Nam khi chuyển nhượng thành công bản quyền giống lúa lai hai dòng TH3-3 với giá trị kỷ lục 10 tỷ đồng. Thương vụ đã mở ra động lực mới cho hoạt động nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, góp phần khẳng định giá trị của các thành tựu khoa học nông nghiệp trong cơ chế thị trường.

pgsts-nguyen-thi-tram.png
PGS.TS, Anh hùng Lao động Nguyễn Thị Trâm bên cánh đồng lúa. Ảnh: NVCC.

Hành trình tự học phi thường của GS Hoàng Tụy

Với hành trình tự học đầy nghị lực, GS Hoàng Tụy trở thành người mở đường cho tối ưu toàn cục, được thế giới vinh danh bởi chính tên của mình.

GS, TS Hoàng Tụy (1927-2019), nguyên nguyên Chủ nhiệm Khoa Toán – Cơ – Tin học Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) là một trong những người đặt nền móng cho toán học Việt Nam hiện đại, người khai sinh lý thuyết Tối ưu toàn cục.

Bên cạnh hoạt động nghiên cứu, GS Hoàng Tụy còn dành nhiều tâm huyết cho giáo dục, khoa học và thường xuyên đóng góp ý kiến phản biện đối với các vấn đề phát triển của đất nước.

GS Novakovic- nhà khoa học hàng đầu về mô người nhận giải thưởng danh giá

GS Gordana Vunjak-Novakovic là nhà khoa học nữ xuất sắc trong lĩnh vực kỹ thuật mô người và y học tái tạo giành giải thưởng danh giá L’Oréal-UNESCO 2026.

Giải thưởng L'Oréal-UNESCO Vì Phụ nữ trong Khoa học năm nay đã công bố danh sách 5 nhà nghiên cứu nữ xuất sắc trong lĩnh vực khoa học sự sống và môi trường. Trong đó, khu vực Bắc Mỹ gọi tên Gordana Vunjak-Novakovic, Giáo sư Đại học và Giáo sư Quỹ Mikati về Kỹ thuật Y sinh tại Đại học Columbia (Mỹ).

Phát triển "các cơ quan trên chip"

Đọc nhiều nhất

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

Chiều 08/06, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.

Tin mới

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

VUSTA thúc đẩy hợp tác khoa học và giáo dục Việt Nam-Tatarstan

Chiều 08/06, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.