Đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1789, hé lộ bí mật vũ khí vượt thời đại

Theo góc nhìn của kỹ sư Vũ Đình Thanh, đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1789 không chỉ là đỉnh cao nghệ thuật cầm quân, mà cho thấy hỏa lực vượt trội của Đại Việt.

Sau 6 năm nghiên cứu và phục dựng vũ khí Đại Việt thời Quang Trung, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho rằng hỏa dược phốt pho chính là yếu tố quyết định tạo nên Đại thắng Kỷ Dậu 1789, khiến quân Thanh dù phòng bị kỹ lưỡng vẫn không thể thoát thân.

Ngọn lửa Đại Việt và sức mạnh quân sự vượt thời đại

Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, Đại thắng mùa xuân Kỷ Dậu 1789 cần được nhìn nhận trước hết như một chiến thắng của hỏa lực quân sự đặc biệt, chứ không chỉ là kết quả của yếu tố bất ngờ hay sai lầm chiến thuật của đối phương. Ông cho rằng quân Thanh khi tiến vào Đại Việt không hề lơ là, mà đã tổ chức lực lượng rất lớn, xây dựng hệ thống đồn lũy, cầu phao, bố trí đại quân sẵn sàng giao chiến.

Những cách lý giải cho rằng quân Thanh thua vì “ăn Tết, say rượu, ngủ quên” theo ông là không phù hợp với thực tế được ghi chép trong chính sử. Khi Hoàng đế Quang Trung dừng lại ở Nghệ An, Thanh Hóa hơn 10 ngày để tăng quân số, quân Thanh cũng có đủ thời gian để củng cố lực lượng, xây dựng phòng tuyến và chuẩn bị đối phó.

xuan-ky-dau.png
Mô tả hỏa lực từ thân voi phóng xuống. Nguồn: VĐT.

Theo góc nhìn của kỹ sư Thanh, điều khiến cục diện chiến tranh đảo chiều nhanh chóng chính là loại hỏa lực mà quân Đại Việt sử dụng, được mô tả trong sử sách nhà Thanh bằng những cụm từ rất đặc biệt như “nhanh như sấm chớp”, “nóng như thò tay vào vạc dầu”. Những mô tả này, theo ông, hoàn toàn trùng khớp với đặc tính của phốt pho khi tiếp xúc với không khí.

Ông cho rằng ngọn lửa này là kết tinh của nhiều yếu tố: kinh nghiệm chế tạo thuốc súng và hỏa dược của người Việt đi trước thế giới hàng trăm năm; nguồn nguyên liệu phong phú từ điều kiện tự nhiên; cùng trí tuệ khoa học vượt thời đại của Hoàng đế Quang Trung và cộng sự.

“Đây là loại hỏa lực mà một khi đã được sử dụng thì đối phương gần như không có khả năng đối phó, dù đã chuẩn bị và sẵn sàng chiến đấu”, kỹ sư Vũ Đình Thanh nhận định.

Theo ông, chính sức mạnh ấy đã tạo ra hiệu ứng tâm lý khủng khiếp, khiến hàng vạn quân Vân Nam nhìn thấy lửa cháy rực ở Thăng Long đã tự rút chạy, hàng triệu dân vùng biên giới nhà Thanh cuống cuồng bỏ chạy, để lại những mô tả trong sử sách rằng “hàng trăm dặm không một bóng người”.

Vũ khí phốt pho và ba trận quyết chiến của Đại thắng Kỷ Dậu

Sau 6 năm nghiên cứu vũ khí Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho biết, ông đã tiến hành kiểm chứng, phản biện với các chuyên gia vũ khí hàng đầu của Nga, cùng Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ AHLLVTND Nguyễn Huy Hiệu. Trên cơ sở đó, ông đưa ra kết luận: Đại Việt thời Quang Trung đã sử dụng vũ khí có chứa phốt pho, cả ở dạng nguyên chất và dạng hỗn hợp.

Theo phân tích của ông, tại trận Đống Đa (đồn Khương Thượng), quân Đại Việt đã sử dụng hàng trăm voi chiến, tạo thành lực lượng cơ động lớn. Trong đêm tối, từ trên lưng voi, các ống phóng hỏa tiễn được triển khai đồng loạt, bắn hỏa tiễn, dạng tên lửa sơ khai với đầu nổ chứa phốt pho hoặc hỗn hợp phốt pho vào đồn giặc.

xuan-ky-dau-2.png
Mô hình vũ khí thời Hoàng đế Quang Trung. Nguồn: VĐT

Sử nhà Thanh mô tả quân trong đồn “chốc lát bị chết”, xác chết nguyên vẹn, không có dấu vết giao chiến. Theo kỹ sư Thanh, điều này phù hợp với hiện tượng phốt pho phát nổ trong không gian kín, gây cháy dữ dội, hút cạn oxy và tạo nổ thứ cấp. Việc Sầm Nghi Đống được ghi là treo cổ tự sát, theo ông, có thể xuất phát từ việc người đương thời chưa hiểu khái niệm ngạt oxy.

Tại đồn Ngọc Hồi, Hoàng đế Quang Trung không cho quân xông thẳng vào trong đồn. Thay vào đó, quân Đại Việt bắn “hỏa tiễn hỏa châu” tới tấp. Sử nhà Thanh ghi rõ cảnh quân Thanh mất khả năng kháng cự, chỉ biết tháo chạy. Kỹ sư Thanh cho rằng, đó là hậu quả của ngộ độc khói phốt pho và tình trạng thiếu oxy nghiêm trọng.

Đỉnh điểm của Đại thắng Kỷ Dậu là đại chiến hai bên bờ sông Hồng được sử nhà Thanh gọi là “tượng trận đốt cháy”. Tôn Sĩ Nghị đã bố trí đại quân hai bên bờ sông và xây dựng cầu phao với ý đồ dùng nước để khắc chế hỏa lực. Tuy nhiên, hỏa dược Tây Sơn, theo kỹ sư Thanh, là hỗn hợp nhựa thông, dầu mỏ và phốt pho có thể cháy ngay trên mặt nước.

Sử nhà Thanh mô tả quân Thanh “tranh nhau nhảy xuống sông”, “chết đầy sông”, “sông Hồng không chảy được”. Như vậy, rất có thể đây không phải là chết đuối mà là hậu quả của hỏa dược nổi trên mặt nước, tiếp tục cháy và hút cạn oxy.

“Các mô tả trong chính sử nhà Thanh hoàn toàn phù hợp với đặc tính của vũ khí phốt pho và hỏa dược Tây Sơn”, kỹ sư Vũ Đình Thanh nhận định.

Nền công nghiệp quốc phòng tự chủ từ sở hữu nguyên liệu “siêu vũ khí”

Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, nền tảng để Đại Việt chế tạo được vũ khí phốt pho nằm ở điều kiện tự nhiên đặc biệt. Trên khắp Việt Nam có rất nhiều hang dơi với phân dơi và đất thấm nước tiểu dơi tích tụ hàng nghìn năm, chứa hàm lượng phốt pho rất lớn. Người Việt đã biết chiết xuất diêm tiêu từ phân dơi từ rất sớm, trước cả khi châu Âu biết đến thuốc súng.

vu-khi-phot-pho.jpg
Hình vẽ minh họa hỏa cầu phốt pho nhanh như sấm chớp, nóng như thò tay vào vạc dầu. Nguồn: VĐT.

Ngoài ra, phân chim tại các đảo như Hoàng Sa, Trường Sa cũng chứa lượng phốt pho lớn, trộn sẵn với cát, yếu tố quan trọng trong quá trình chưng cất phốt pho. Theo ông, thiên nhiên Việt Nam đã “chuẩn bị sẵn” nguyên liệu cho việc sản xuất phốt pho thô với công nghệ không quá phức tạp.

Những mô tả trong chính sử nhà Thanh về hỏa khí của quân Tây Sơn càng củng cố lập luận này. Các ghi chép như “nhanh như sấm chớp”, “nóng như thò tay vào vạc dầu” phù hợp với đặc tính vật lý của phốt pho: tự bốc cháy khi tiếp xúc không khí và gây bỏng sâu đặc trưng. Sử nhà Nguyễn cũng ghi rõ: “Tây Sơn dùng dầu mỏ trộn nhựa thông chế ra hỏa dược cháy lâu và không thể dập tắt”, hay “trong ống tống nhựa thông ra, trúng phải đâu, lập tức bốc cháy”.

Theo kỹ sư Thanh, chỉ khi hỗn hợp nhựa thông và dầu mỏ được trộn với phốt pho thì mới có khả năng tự bùng cháy như mô tả. Ông đã nghiên cứu, thực nghiệm loại “hỏa dược Tây Sơn” này và đăng ký độc quyền sáng chế để ứng dụng trong động cơ tên lửa và động cơ đốt trong hiện đại.

Hình ảnh “mắt phát sáng” của Hoàng đế Quang Trung cho thấy Hoàng đế có thể đã hiểu rất rõ về phốt pho, biết về đặc tính phát sáng lạnh màu xanh lét đặc trưng của phốt pho khi ở trạng thái ẩm, khi khô sẽ tự bốc cháy màu trắng đặc trưng với nhiệt độ lên tới 2000 độ. Cây gậy phát sáng vua tặng La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng thể hiện phốt pho đã được sử dụng.

Tuy nhiên, việc tiếp xúc lâu dài với phốt pho trong quá trình điều chế có thể gây nhiễm độc mạn tính. Cái chết của Hoàng đế Quang Trung, hai anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ và tướng Phan Văn Lân đều mang những dấu hiệu tương đồng với các mô tả về ngộ độc phốt pho trong y văn quân sự hiện đại cần tiếp tục được nghiên cứu thận trọng.

“Từ các nghiên cứu, mô phỏng và thực nghiệm, có thể thấy Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung đã sở hữu nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, đủ khả năng chế tạo những loại vũ khí đặc biệt mạnh, góp phần quyết định vào các chiến thắng lớn cuối thế kỷ XVIII”, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, từ khi nghiên cứu của anh về vũ khí phốt pho được báo chí đăng tải, đặc biệt là cả tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, anh đã nhận được rất nhiều tài liệu từ các nhà khoa học Theo những thông tin quý giá từ Viện lưu trữ Quốc gia Pháp mà anh nhận được, có thể thấy, người Pháp cũng nhìn nhận vũ khí Tây Sơn là vũ khí phốt pho.

Trong báo cáo gửi Bộ Hải quân Pháp (Ministère de la Marine) của đô đốc đế chế Pháp François Étienne de Rosily-Mesros có mô tả về vũ khí phốt pho của vua Quang Trung: “Những hỏa tiễn của họ, được phóng với độ chính xác kinh ngạc, bám chặt vào buồm và dây lèo. Một khi lửa đã phát ra, gần như không thể dập tắt bằng nước. Ngọn lửa có màu trắng chói mắt, tỏa ra làn khói dày đặc làm thủy thủ ngạt thở”… Ngoài ra, còn một số ghi chép khác.

Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, những chiến thắng của vua Quang Trung là kết quả của trí tuệ khoa học kỹ thuật Đại Việt, là chiến thắng tất yếu.

Những nhận định của kỹ sư Vũ Đình Thanh cần được tiếp tục kiểm chứng, đối thoại học thuật và đánh giá độc lập bởi giới sử học, khảo cổ học, hóa học và khoa học quân sự trong nước cũng như quốc tế. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đã mở ra một hướng tiếp cận mới, góp phần làm phong phú nhận thức về sức mạnh thực sự của Đại Việt thời Hoàng đế Quang Trung, đồng thời gợi lên nhiều câu hỏi đáng suy ngẫm về trình độ công nghệ, khả năng tự chủ quốc phòng và tư duy vượt thời đại của cha ông trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

Chuyên gia vũ khí: Nỏ thần xuất hiện từ thời Hùng Vương

Từ những nghiên cứu, kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật, đại diện của NPO ALMAZ Nga khẳng định, nỏ thần đã được xuất hiện từ thời Hùng Vương. Điều này đã thể hiện rõ trong Ngọc Phả Hùng Vương.

Kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật, đại diện của NPO ALMAZ Nga, nơi sản xuất các hệ thống tên lửa phòng không nhất thế giới như S300, S500, S1000 cho biết, mũi tên đồng Cổ Loa y hệt như mũi tên bay flechette của không quân Pháp trong thế chiến 1. Theo kết quả đã kiểm chứng, trong Thế chiến 1, flechette từ độ cao 18m có thể xuyên thủng sọ người, 56m xuyên thủng mũ sắt. Như vậy, mũi tên đồng Cổ Loa (hệt như mũi tên bay flechette), nếu bắn từ núi Phja Dạ Cao Bằng cao 2000 m chắc chắn “xuyên tá” 10 tên giặc Tần. Điều này đúng như sử Trung Quốc Việt Kiều Thư đã viết “Âu Lạc thời Tần rất mạnh, có phép dùng nỏ rất giỏi, một phát tên đồng có thể bắn chết hơn chục người. Triệu Đà sợ lắm”.

Đọc nhiều nhất

Tin mới