Giáo sư Hồ Đắc Di (1900–1984) là Hiệu trưởng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đảm nhiệm cương vị này cho đến năm 1973. Không chỉ là một thầy thuốc có chuyên môn vững vàng, ông còn là người trực tiếp tổ chức, duy trì và phát triển Trường Đại học Y trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Thuộc lớp trí thức tiêu biểu của thế kỷ XX, GS Hồ Đắc Di để lại dấu ấn không chỉ ở lĩnh vực y học mà còn ở những quan niệm sâu sắc về văn hóa và giáo dục.
Hiệu trưởng người Việt đầu tiên ngành Y
Giáo sư Hồ Đắc Di sinh ngày 11/5/1900 (ngày Phật Đản năm Canh Tý) tại Huế, trong một gia đình nhiều đời làm quan dưới triều Nguyễn.
Ông nội ông là Hồ Đắc Tuấn, từng được phong tước Hầu; bà nội là Công nữ Thức Huấn, con gái Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Thân sinh ông, Quận công Hồ Đắc Trung của Khánh Mỹ từng giữ các chức Tổng đốc Nam Ngãi, Thượng thư các Bộ Học, Lễ, Công; Đông các Đại học sĩ, sung Cơ mật đại thần. Nhiều anh em của ông cũng là trí thức, giữ vị trí quan trọng trong triều Nguyễn và sau này trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sinh ra trong gia tộc quyền quý, gần 13 năm du học tại Bordeaux rồi Paris, ông được bạn bè Pháp gọi nửa đùa nửa kính trọng là “Prince Ho Dac”. Năm 1918, khi Thế chiến thứ nhất vừa kết thúc, chàng thanh niên họ Hồ Đắc đặt chân đến Paris.
Thời điểm ấy, cộng đồng người Việt ở Pháp hoạt động khá sôi nổi. Bản Yêu sách về Quyền của các dân tộc do Nguyễn Ái Quốc gửi Hội nghị Hòa bình Versailles (1919) được báo chí Pháp đăng tải rộng rãi. Hồ Đắc Di thường lui tới Hội Sinh viên An Nam tại số 15 phố Sommerard, khu Latin. Tại đây, ông có dịp gặp nhiều nhà yêu nước.
Trong hồi ký, ông kể lại một kỷ niệm không quên: “Một sự kiện đặc biệt để lại ấn tượng sâu sắc trong tiềm thức của tôi. Hồi ấy, tôi thường đến trụ sở Hội Sinh viên An Nam tại 15 phố Sommerard, khu Latin, Paris. Một sáng chủ nhật, tôi đi với anh bạn Dương Văn Giáo, người Nam Kỳ, luật sư tập sự. Chúng tôi đến trụ sở Hội để gặp gỡ bạn bè. Trụ sở có hai phòng: phòng ngoài để sách, báo cho sinh viên xem; phòng trong bày bàn ghế tiếp khách. Nhìn vào phòng trong, tôi thấy có ba người đang ngồi nói chuyện. Một người nhiều tuổi, để râu. Một người béo, lùn. Và một người trẻ tuổi, xanh xao, dong dỏng cao.
– Cậu có biết ba người kia là ai không? – Anh Giáo hỏi tôi.
– Biết một. Người để râu là cụ Phan Chu Trinh. – Tôi nói.
– Người béo, lùn là luật sư Phan Văn Trường – anh Giáo tiếp lời. – Còn người trẻ, gầy là ông Nguyễn Ái Quốc đấy!
Ba tiếng “Nguyễn Ái Quốc” khiến tôi bàng hoàng xúc động! Thì ra con người mà tôi hằng nghe bạn bè nói tới, con người đã cất cao tiếng nói đanh thép đòi quyền chính đáng cho dân tộc Việt Nam – một việc làm can đảm khiến bất cứ người Việt Nam nào có chút lòng yêu nước cũng phải cảm thấy tự hào – con người ấy đang ngồi trước mặt tôi kia!
Sau hôm ấy, tôi còn thấy ông Nguyễn Ái Quốc một lần nữa tại trụ sở Hội Sinh viên An Nam .
Lúc bấy giờ, anh em sinh viên chúng tôi thường lặng lẽ đem đi bán những số báo Người cùng khổ và Việt Nam hồn trong bà con người Việt tại Paris.
Năm 1919, mặc dù hoàn toàn chưa có một ý niệm gì về cách mạng Việt Nam nhưng tôi vẫn thầm cảm phục hành động yêu nước nồng nhiệt và lòng quả cảm vô song của ông Nguyễn Ái Quốc. Cho nên, năm 1945, khi được biết phong trào Việt Minh là do ông Nguyễn Ái Quốc sáng lập (nhờ một tờ truyền đơn ai đó lùa qua khe cửa) là tôi yên tâm: Chính nghĩa đây rồi! Độc lập, Tự do đây rồi! Và khi được thấy con người mảnh khảnh năm xưa thường lui tới số nhà 15 phố Sommerard, nay tóc đã điểm bạc, lưa thưa chòm râu cằm, cất cao giọng Nghe đọc Tuyên ngôn Độc lập thì niềm tin của tôi càng thêm vững chắc”.
Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao cho GS Hồ Đắc Di, người Việt Nam duy nhất được Toàn quyền Đông Dương công nhận chức danh giáo sư đại học trước năm 1945 – giữ chức Hiệu trưởng Đại học Y Hà Nội. Ông trở thành Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của trường. Trước đó, vị trí này do các hiệu trưởng người Pháp đảm nhiệm, người đầu tiên là bác sĩ Alexandre Yersin (1902).
Ngoài cương vị Hiệu trưởng, ông còn đảm nhiệm Tổng Thanh tra Y tế, Tổng Giám đốc Vụ Đại học và Giám đốc Bệnh viện Đồn Thủy (trên khu đất nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội và Bệnh viện Hữu nghị). Công việc đang bộn bề thì cuối năm 1946, tình hình thay đổi đột ngột.
Chiều 17/12/1946, vừa kết thúc một ca mổ, đang rửa tay thay áo, ông nhận lệnh:
“Tình hình hết sức nghiêm trọng! Phải rời Hà Nội ngay!”
Ông lên đường rời Thủ đô, bắt đầu một chặng đường khác của Trường Y.
Dựng giảng đường giữa chiến khu Việt Bắc
Một tháng sau, Trường Y tiếp tục giảng dạy trong nhà dân ở làng Vân Đình (nay thuộc Hà Tây cũ). Khi Pháp đánh ra Vân Đình, trường lại chuyển lên Việt Bắc, dừng chân tại huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang).
Những năm ở Việt Bắc là quãng thời gian đặc biệt gian khó. Cả trường chỉ có hai giáo sư, là bác sĩ Hồ Đắc Di và bác sĩ Tôn Thất Tùng, sau này thêm bác sĩ Đặng Văn Ngữ từ Nhật Bản trở về (sau năm 1950), một số tá y và 11 sinh viên (khi đó gọi là sinh viên xung phong).
Ngày 6/10/1947, Trường Đại học Y kháng chiến tổ chức lễ khai giảng năm học mới. Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đến dự, cùng nhiều thành viên Chính phủ và Quốc hội như Hoàng Tích Trí, Nguyễn Khánh Toàn, Phạm Bá Trực… Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Văn Huyên chủ trì buổi lễ. Hiệu trưởng Hồ Đắc Di đọc diễn văn khai giảng – văn bản đến nay vẫn còn được lưu giữ.
Chỉ một ngày sau, 7/10, thực dân Pháp mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. Bệnh viện thực hành của Trường Y bên làng Ải bị đốt phá, một bệnh nhân bị sát hại, ngôi nhà sàn của bác sĩ Tôn Thất Tùng cũng bị thiêu rụi. Thầy và trò phải vượt ngòi Quẵng, lánh sang làng Bình, rồi vào rừng sâu hai tháng cho tới khi quân Pháp rút lui.
Trong điều kiện thiếu thốn đủ bề, Trường Đại học Y vẫn duy trì giảng dạy bằng tiếng Việt. Từ hai giáo sư và 11 sinh viên ban đầu, nhà trường đào tạo được nhiều cán bộ y tế phục vụ trực tiếp cho kháng chiến, góp phần vào thắng lợi năm 1954.
Những tư tưởng vượt thời đại, "nghề y không dung thứ bất cứ thứ gì trái đạo đức"
GS Hồ Đắc Di luôn đặt y đức ở vị trí trung tâm. Ông nhấn mạnh nghề thầy thuốc là “nghề không dung thứ bất cứ thứ gì trái đạo đức bởi vì nó liên quan đến cái tinh tế nhất là sự sống của con người”.
Theo ông, “nhờ kết hợp giữa khoa học và văn hoá mà người thầy thuốc xứng đáng với thiên chức cao quý của mình”. Ông thường nhắc đồng nghiệp trẻ phải coi văn hóa là gốc rễ, kỹ thuật chỉ là ngọn cành; kỹ thuật thành thạo mà đầu óc nghèo nàn về văn hóa thì chưa thể gọi là trí thức đúng nghĩa.
Ngay từ những trang viết trong những năm ở Việt Bắc, GS Hồ Đắc Di đã thể hiện tầm nhìn xa rộng đối với giáo dục đại học cũng như đối với ngành y.
Từ năm 1947, ông đã viết:“Trường đại học là một cộng đồng trong đó thầy và trò cùng có chung một niềm khát khao học hỏi qua tự do trao đổi ý kiến để đạt đến chân lý, để thấu hiểu một cách đúng đắn giá trị của sức mạnh trí tuệ. Đó chính là bí quyết của tinh thần đại học (…). Trong lao động tập thể, trong không khí thân mật, ấm áp, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau giữa thầy và trò, óc phê phán khoa học, đoá hoa đẹp nhất của trí tuệ con người, sẽ có đất để phát huy, nở rộ”.
Ông khẳng định đại học phải “vừa là trung tâm giảng dạy, vừa là trung tâm nghiên cứu” và viết: “Giảng dạy và nghiên cứu là hai anh em sinh đôi, và nhiều khi giảng đường trang nghiêm chỉ là sảnh chờ trước khi bước vào phòng thí nghiệm”. (Trích từ Sứ mạng và vai trò của trường đại học – 1949). Sau này, ông nói rõ hơn: “Trường đại học không chỉ là nơi giảng dạy khoa học đã hình thành, mà còn là nơi đang hình thành khoa học.”
GS Tôn Thất Tùng luôn tự hào về GS Hồ Đắc Di, “người thầy đầu tiên” của mình. Sau khi trở thành viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới, ông viết: “Cụ Hồ Đắc Di thường dạy tôi: Khoa học là sự nổi dậy của tư duy. Đã làm khoa học là phải luôn luôn đặt lại vấn đề. Nếu không, thì chẳng còn gì để tìm kiếm nữa! Và cũng chẳng có gì để phát minh!”.
Còn GS Phạm Khuê, nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Trường Đại học Y Hà Nội, ông viết: “Sự nghiệp của cụ Di là sự nghiệp khoa học. Cuộc sống của cụ Di là cuộc sống của một triết nhân.”
Trước Cách mạng Tháng Tám, GS Hồ Đắc Di đã công bố 37 công trình nghiên cứu trên các tạp chí y học của Pháp ở Paris cũng như ở Viễn Đông. Một số công trình có ý nghĩa mở đường. Gần đây, Đại học Y Hà Nội mới tìm lại được những công trình này.
Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I, một phần cho các công trình về “quan điểm, đường lối, phương pháp luận đào tạo cán bộ y tế Việt Nam sau năm 1945”, phần khác cho công trình biên khảo “Sinh học và bệnh học đại cương”.
GS Hồ Đắc Di qua đời ngày 25/6/1984 tại Hà Nội, hưởng thọ 84 tuổi. Để tưởng nhớ ông, Hà Nội đã đặt tên một con phố mang tên Hồ Đắc Di, con phố nối liền với phố Tôn Thất Tùng, Phạm Ngọc Thạch và Đặng Văn Ngữ, những tên tuổi tiêu biểu của nền y học Việt Nam hiện đại.