GS.TS Nguyễn Đình Tứ, người mở đường cho khoa học hạt nhân Việt Nam

GS.TS Nguyễn Đình Tứ là một trong những người đặt nền móng cho ngành khoa học - kỹ thuật hạt nhân Việt Nam, nhà giáo dục xuất sắc.

GS.TS Nguyễn Đình Tứ được xem là một trong những người đặt nền móng cho ngành khoa học - kỹ thuật hạt nhân Việt Nam. Với cụm công trình nghiên cứu về tương tác các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao, đặc biệt là việc phát hiện phản hạt hyperon sigma âm, ông ghi dấu ấn trong giới vật lý học quốc tế, đồng thời có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của khoa học và giáo dục đại học trong nước.

gs-nguyen-dinh-tu-by-vnu-btpress-2-650x453.jpg
GS Nguyễn Đình Tứ (ngoài cùng bên phải) cùng các đồng nghiệp nghiên cứu khoa học. Ảnh: Tư liệu.

Người đặt nền móng cho ngành Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân Việt Nam

Dấu ấn sâu đậm nhất trong sự nghiệp khoa học của GS. Nguyễn Đình Tứ chính là những phát hiện tầm vóc quốc tế về hạt cơ bản. Trong gần 11 năm làm việc tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna (Liên Xô), ông đã công bố hơn 50 công trình khoa học có giá trị.

Năm 30 tuổi, nhà vật lý Nguyễn Đình Tứ đã đại diện nhóm nghiên cứu báo cáo tại nhiều diễn đàn khoa học quốc tế ở Tây Âu về phát hiện thực nghiệm phản hạt hyperon sigma âm, một hiện tượng mới của vật lý hạt cơ bản thời điểm đó. Theo công bố, phản hạt này có khối lượng lớn gấp 2.340 lần electron, mang điện tích dương, thời gian sống khoảng một phần mười tỷ giây trước khi phân rã thành pimeson dương và phản nơtron.

Công trình đã tạo tiếng vang trong cộng đồng khoa học quốc tế. Năm 1961, ngay sau khi kết quả nghiên cứu được công bố, Nguyễn Đình Tứ được Hội đồng Khoa học Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna trao giải thưởng khoa học. Đến năm 1968, ông cùng nhóm tác giả quốc tế được Chính phủ Liên Xô cấp bằng phát minh.

Với những đóng góp trong nghiên cứu vật lý năng lượng cao, năm 2000, GS Nguyễn Đình Tứ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình “Phát hiện phản hạt hyperon sigma âm và nghiên cứu tương tác của các hạt cơ bản, hạt nhân ở năng lượng cao”.

Không chỉ dừng lại ở nghiên cứu lý thuyết, GS. Nguyễn Đình Tứ chính là "kiến trúc sư" trưởng xây dựng ngành Năng lượng nguyên tử nước nhà. Ngay từ những năm cuối thập kỷ 60 tại Liên Xô, ông đã dành thời gian tổ chức các buổi thuyết trình về tin học, kỹ thuật lò phản ứng và điện nguyên tử cho các cán bộ Việt Nam. Khi trở về nước, từ một phòng nghiên cứu nhỏ thuộc Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, ông đã dẫn dắt để Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định thành lập Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt vào ngày 26/4/1976.

gs-nguyen-dinh-tu-by-vnu-btpress-10-650x466.jpg
GS.TS Nguyễn Đình Tứ, người mở đường cho ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam. Ảnh:Tư liệu.

Suốt 17 năm giữ chức Viện trưởng (1976-1993), ông đã chèo lái ngành năng lượng hạt nhân từ những bước đi chập chững ban đầu đến khi trưởng thành lớn mạnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, Viện đã hình thành các hướng nghiên cứu triển khai quan trọng, chuyển giao kỹ thuật hạt nhân phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ và chuẩn bị cơ sở vật chất cho chương trình điện hạt nhân quốc gia.

Đánh giá về những đóng góp của ông, PGS.TS Vương Hữu Tấn, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam khẳng định: "Mọi thành công của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam hôm nay đều bắt nguồn từ cội nguồn sâu xa, từ những đóng góp ban đầu của GS. Nguyễn Đình Tứ".

Tiến sĩ ngành Vật lý hạt nhân đầu tiên của Việt Nam

GS.TS Nguyễn Đình Tứ sinh ngày 1/10/1932 tại xã Song Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở nhỏ, do điều kiện công tác của cha, ông đã phải chuyển qua nhiều trường học khác nhau, nhưng ở bất cứ đâu, ông cũng khiến thầy cô nể phục bởi trí thông minh và niềm đam mê khoa học cháy bỏng.

Giai đoạn 1948-1950, khi theo học tại Trường Trung học chuyên ban Huỳnh Thúc Kháng, dù chương trình kéo dài 3 năm nhưng sau khi kết thúc năm thứ nhất với kết quả xuất sắc, ông tự nghiên cứu chương trình năm thứ hai, được nhà trường cho thi thẳng lên năm thứ ba và đỗ thủ khoa tốt nghiệp chuyên ban năm 1950. Chính nhờ sự nỗ lực không ngừng nghỉ đó, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1949 khi mới 17 tuổi, một vinh dự hiếm có đối với một học sinh phổ thông.

Giai đoạn 1951-1957, ông được Nhà nước cử sang Trung Quốc học tập. Tại Khu học xá Nam Ninh, khi tiếng Nga vẫn còn là một ngoại ngữ xa lạ, Nguyễn Đình Tứ đã cùng bạn bè tự mày mò đọc sách Toán bằng tiếng Nga, tạo ra một phong trào tự học ngoại ngữ lan tỏa rộng khắp. Ông tốt nghiệp loại ưu chuyên ngành Thủy lợi – Thủy điện tại Đại học Vũ Hán và được giữ lại làm nghiên cứu sinh.

Tháng 8/1957, ông được cử sang công tác tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna Tại đây, dưới sự dẫn dắt của Viện sĩ Veksler, nhà khoa học trẻ Nguyễn Đình Tứ đã dấn thân vào lĩnh vực vật lý năng lượng cao đầy thử thách.

Ông nhanh chóng làm chủ các phương pháp thực nghiệm, nắm vững vật lý lý thuyết và đi tiên phong trong việc sử dụng máy tính vào nghiên cứu. Năm 1962, ông bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, trở thành tiến sĩ ngành Vật lý hạt nhân đầu tiên của Việt Nam.

Nhà giáo dục và quản lý giáo dục xuất sắc

Tháng 7/1971, GS. Nguyễn Đình Tứ trở về nước và được cử đảm nhận chức vụ Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn kiêm Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau đó kiêm Chủ nhiệm khoa Vật lý và là Bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội).

Đây là giai đoạn nhà trường đối mặt với muôn vàn khó khăn khi vừa từ nơi sơ tán trở về, cơ sở vật chất ngổn ngang, nội bộ lại đang có những bất đồng gay gắt. Với bản lĩnh và sự khéo léo, ông đã cùng tập thể lãnh đạo tháo gỡ khó khăn, nhanh chóng ổn định tình hình và đưa nhà trường phát triển.

Hình ảnh một vị Giáo sư lừng danh cùng sinh viên lặn lội trong trận lụt lịch sử cuối năm 1971 tại Đông Anh và Gia Lâm đã in đậm trong tâm trí nhiều thế hệ. Ông trực tiếp xuống từng tổ lao động, cùng sinh viên thức trắng đêm xúc cát ở hồ Giảng Võ hàn khẩu đê sông Đuống, cứu kho gạo Yên Viên và bảo vệ các kho hóa chất. Sự xả thân, gần gũi của ông đã tạo nên niềm tin tuyệt đối của thầy và trò vào sự lãnh đạo của nhà trường.

Tại Đại học Tổng hợp, ông không chỉ ổn định tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược khi chủ trì đề án mở thêm các ngành học mới như Triết học, Luật, Kinh tế Chính trị để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Dù bận rộn với công tác quản lý, ông vẫn trực tiếp giảng dạy, truyền thụ cho sinh viên phương pháp luận khoa học, tư duy logic và tác phong tỉ mỉ, chính xác. Những dấu ấn về một nhà lãnh đạo năng động, tận tụy tại đây vẫn mãi được khắc ghi.

Khi bước lên cương vị Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp (1976-1986), GS Nguyễn Đình Tứ đã thực hiện hàng loạt chủ trương táo bạo: sắp xếp lại hệ thống trường học miền Nam sau thống nhất, mở các trường dự bị đại học cho đối tượng chính sách và khai sinh hệ đào tạo tại chức. Ông cũng là người đặt nền móng cho việc đào tạo sau đại học, phong học hàm Giáo sư, Phó Giáo sư trong nước và tiên phong áp dụng công nghệ thông tin vào công tác tuyển sinh.

GS Nguyễn Đình Tứ qua đời đột ngột vào ngày 28/6/1996 để lại bao dự định dang dở cho ngành hạt nhân và giáo dục nước nhà. Với Huân chương Độc lập hạng Nhất cùng nhiều phần thưởng cao quý khác, tên tuổi của ông đã được ghi vào sử sách như một trong những trí thức kiệt xuất nhất của dân tộc Việt Nam.

ĐBQH Nguyễn Quang Huân: Đại đoàn kết là nguồn lực để đất nước cất cánh

ĐBQH Nguyễn Quang Huân khẳng định, đại đoàn kết là nguồn lực phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới, trong đó, doanh nhân trí thức là lực lượng quan trọng.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, ĐBQH, ThS, Kỹ sư Nguyễn Quang Huân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam nhấn mạnh, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trở thành nguồn lực để khơi thông nội lực và thúc đẩy phát triển đất nước.

nguyen-quang-huan.jpg
ĐBQH, ThS, Kỹ sư Nguyễn Quang Huân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Halcom Việt Nam tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI. Ảnh: Mai Loan.

GS.TS Phan Trung Lý: Sự hài lòng của Nhân dân là thước đo hiệu quả

GS.TS Phan Trung Lý khẳng định, Đại hội MTTQ mở ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, phát huy vai trò đại diện, giám sát, phản biện vì Nhân dân.

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026-2031 đặt ra nhiều yêu cầu về đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội.

Trao đổi về những kỳ vọng hậu Đại hội, GS.TS Phan Trung Lý, nguyên Chủ tịch Ủy ban Pháp luật của Quốc hội nhấn mạnh, Mặt trận cần thực sự là liên minh chính trị, đại diện cho tiếng nói chân chính của Nhân dân. Sự hài lòng của người dân chính là tiêu chuẩn khách quan nhất để đo lường hiệu quả hoạt động của Mặt trận trong nhiệm kỳ mới.

Chuyện chưa kể về cuộc gặp lịch sử Bác Hồ với trí thức và sự ra đời ngày KHCN

TSKH Nghiêm Vũ Khải kể, khi ông đề xuất lấy ngày 18/5, Bác Hồ có cuộc gặp lịch sử với trí thức làm ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tất cả đều đồng tình.

Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất, Hội phổ biến Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam vào ngày 18/5/1963 đã trở thành kim chỉ nam cho hoạt động khoa học và công nghệ nước nhà.

Và tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII, Luật Khoa học và Công nghệ được thông qua, đã thống nhất chọn ngày 18/5 hàng năm là Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (nay là ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam). Sự ra đời của ngày này xuất phát từ đề xuất của TSKH. Nghiêm Vũ Khải, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

Đọc nhiều nhất

Tin mới

GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"

GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"

Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển, hướng tới khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số. Trong dòng chảy ấy, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ càng được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ với sứ mệnh nghiên cứu mà còn là lực lượng kiến tạo động lực phát triển mới cho quốc gia.