PGS.TS Lê Hoàng Sơn, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội là tác giả của hàng trăm công trình đăng tải trên các tạp chí uy tín thuộc hệ thống SCIE/Scopus và là thành viên trong ban biên tập của hơn 10 tạp chí quốc tế SCIE, đồng thời kiêm nhiệm vị trí Phó Tổng Biên tập tạp chí Tin học và Điều khiển học.
Ông là Chuyên gia Tư vấn của Văn phòng Chính phủ giai đoạn 2018-2020 và tham gia tư vấn chính sách về Trí tuệ nhân tạo và Chuyển đổi số cho nhiều Bộ, ngành và địa phương cũng như báo cáo mời tại nhiều diễn đàn lớn quan trọng về CNTT-TT trong gần 10 năm qua, đặc biệt trong lĩnh vực Trí tuệ nhân tạo.
Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống ngày đầu năm mới, PGS.TS Lê Hoàng Sơn nhấn mạnh sự chuyển biến mạnh mẽ của khoa học Việt Nam trong việc hội nhập với thế giới, từ tư duy chạy theo công bố sang yêu cầu đổi mới sáng tạo, gắn nghiên cứu với sản phẩm và đưa tri thức ra thị trường.
Khi công bố quốc tế để hội nhập thế giới
PGS.TS Lê Hoàng Sơn cho hay, cách đây hơn mười năm, chuyện gửi bài lên các tạp chí, hội thảo uy tín thuộc hệ thống WoS (SCIE, SSCI, ESCI) và SCOPUS gần như ngoài tầm với của nhiều nhóm nghiên cứu vì quá khó. Nay công bố quốc tế đã trở thành chuẩn mực, là thước đo năng lực và mức độ hội nhập của nhà khoa học.
Năm 2008, Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc Gia (NAFOSTED) đã bắt đầu tài trợ cho các đề tài với yêu cầu đầu ra tối thiểu 01 bài báo quốc tế trong danh mục WoS (SCIE, SSCI, ESCI). Khi đó đây là một bước đột phá lớn để nâng cao chất lượng nghiên cứu tại các trường Đại học và Viện nghiên cứu vì khi một nghiên cứu bước ra bình diện thế giới thì phải tuân theo chuẩn mực quốc tế với cơ chế bình duyệt nghiêm chỉnh và phương pháp nghiên cứu quy chuẩn.
Số lượng bài báo khoa học của Việt Nam tăng nhanh trong toàn giai đoạn 2008-2012, với tốc độ tăng trung bình khoảng 20%/năm với khoảng 3000 bài/năm và đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu có hợp tác quốc tế; điều này vừa là lợi thế, vừa là dấu hiệu nội lực nghiên cứu còn yếu.
Trong các giai đoạn tiếp theo, sự quan tâm của các trường Đại học vào danh tiếng và uy tín học thuật đã tăng cường đáng kể việc tài trợ các đề tài nghiên cứu có đầu ra công bố quốc tế trong danh mục WoS/Scopus. Số lượng công bố quốc tế thuộc danh mục Scopus/WoS giai đoạn 2020-2025 tăng mạnh. Tính đến hết 2025 Việt Nam có khoảng 14.880 bài báo WoS đã công bố, tăng mạnh so với các năm trước và chiếm khoảng 0,53% tổng số nghiên cứu thế giới.
Tuy nhiên, giai đoạn này cũng chứng kiến Việt Nam đứng đầu khu vực Đông Nam Á về tỷ lệ bài báo khoa học bị rút lại tính trên tổng số bài công bố quốc tế, khoảng 2,55 bài bị thu hồi trên 1.000 bài báo quốc tế được xuất bản trong năm. Nguyên nhân chính là do áp lực công bố quốc tế ngày càng tăng tại các Đại học và Viện nghiên cứu do tăng trưởng nóng cùng với kỹ năng nghiên cứu chưa được đào tạo bài bản và đồng bộ tại các cơ sở giáo dục.
“Thực tế nhóm chúng tôi cũng gặp phải ‘tai nạn’ trong các năm trước đây khi có bài báo bị thu hồi do sai sót trong quá trình xử lý chống trùng lặp thuật ngữ và do tạp chí cần phải rút lại rất nhiều bài trong các số để đảm bảo yêu cầu về chủ đề chính đáp ứng tiêu chuẩn danh mục WoS/Scopus. Đây là kinh nghiệm cho các nhóm nghiên cứu và cũng là yêu cầu cơ bản của khoa học: dựa trên chân lý và bài báo sai thì phải sửa hoặc đính chính để đảm bảo nguyên tắc tối thượng của khoa học”, PGS.TS. Lê Hoàng Sơn chia sẻ.
Chuyển đổi tư duy: Khoa học không thể “đóng trong ngăn kéo”
PGS.TS Lê Hoàng Sơn cho hay, Việt Nam đã hội nhập nhưng mới có điều kiện cần nhưng chưa đủ. Nghiên cứu cơ bản với đầu ra công bố quốc tế vẫn cần duy trì với tỷ lệ khoảng 10% kinh phí tài trợ nhưng để Việt Nam phát triển vượt bậc giai đoạn 2025-2030 và sau đó thì cần tập trung mạnh với khoảng 90% kinh phí tài trợ vào nghiên cứu ứng dụng.
Phần lớn trong số 14.880 bài báo WoS đã công bố giai đoạn 2020-2025 có rất ít bài có thể chuyển hóa ngay thành các công nghệ lõi sử dụng trong các sản phẩm thương mại, hoặc có thể chứng minh sẵn sàng chuyển hóa thành sản phẩm dạng mẫu (PoC-Proof of Concept) hay sản phẩm khả dụng tối thiểu (MVP).
Lý do chính là vì Khoa học và Công nghệ Việt Nam thiếu một thành tố quan trọng là đo lường khả năng thương mại hoá của các sản phẩm nghiên cứu khoa học, để từ đó đầu tư lâu dài với mô hình kinh doanh phù hợp. Các nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ thường không bắt đầu từ khách hàng mà từ chính các nhà khoa học từ Viện/trường Đại học, do vậy thiếu đi nhu cầu thực tiễn để đưa sản phẩm vào cuộc sống nên thường cất ngăn kéo sau khi nghiệm thu.
Ngày nay các mô hình hoạt động của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới đều tập trung vào các vấn đề của kinh tế xã hội học như Meta với lý thuyết Nhân Khẩu Học, Amazon với lý thuyết Trading thương mại, Google với các mô hình Kinh Tế Hành Vi, Microsoft với nền tảng Quản trị doanh nghiệp sau khi đã trải qua quá trình thăm dò và khám phá thị trường. Từ đó, đặt nền tảng cho các nhà khoa học nghiên cứu các mô hình phù hợp để công bố quốc tế và kèm theo đó là xây dựng nền tảng công nghệ chứng minh.
Cùng với đó, cách đây khoảng 5 năm, sau khi đề tài được nghiệm thu, không nhiều nhà khoa học nghĩ phải tiếp tục phát triển để biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm sống được trong cộng đồng. Đổi mới sáng tạo khi đó còn xa lạ.
Từ 2025 trở đi cùng với yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nếu không gắn với sản phẩm và không tạo giá trị ứng dụng sẽ không được ưu tiên tài trợ.
Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ sẽ dần gắn chặt với doanh nghiệp với nguồn kinh phí tài trợ từ doanh nghiệp thay vì từ bầu sữa ngân sách nhà nước. Chỉ vài năm trước, nhiều tổ chức khoa học công nghệ vẫn ưu tiên triển khai dự án bằng ngân sách nhà nước, còn hợp tác doanh nghiệp thường bị e ngại vì yêu cầu cao, kinh phí thấp. Bây giờ, hợp tác với doanh nghiệp sẽ là điều bắt buộc nếu muốn công nghệ đi vào đời sống.
Sự thay đổi ấy phản ánh tốc độ phát triển ngày càng nhanh của xã hội. Nhà khoa học không thể chỉ ngồi trong phòng làm việc để nghiên cứu. Muốn đóng góp thực chất cho khoa học và công nghệ, họ phải thích nghi, phải bước ra khỏi vùng an toàn.
“Chúng tôi gọi đó là nghiên cứu hướng đến đổi mới sáng tạo, vị nhân sinh”, PGS.TS. Lê Hoàng Sơn chia sẻ.
Để giấc mơ Việt Nam là trung tâm khoa học công nghệ toàn cầu thành hiện thực
Để hiện thực hóa giấc mơ Việt Nam là trung tâm khoa học công nghệ toàn cầu, theo PGS.TS Lê Hoàng Sơn, cần có nhà khoa học xuất chúng và công nghệ trọng tâm theo định hướng phát triển của Đảng và Chính phủ.
Trong giấc mơ đó, AI cần và phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng chính với việc đồng bộ dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế ứng dụng. Việc xây dựng hệ sinh thái dữ liệu tiêu chuẩn và khung dữ liệu chuẩn hóa giai đoạn 2026–2030 là nền tảng để AI có thể “đồng hành” cùng các lĩnh vực như y tế, giáo dục và quản trị.
Thực trạng hiện nay cho thấy chúng ta đang có "nguyên liệu" (người dùng, dữ liệu) và "đầu bếp" (chuyên gia AI), nhưng lại thiếu một "nhà bếp chuẩn" (Khung dữ liệu và khung pháp lý) để phối hợp.
Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ tháng 3/2026 sẽ biến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia tiên phong có luật riêng về AI. Luật áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro tạo ra sự tin tưởng tuyệt đối khi triển khai AI, vì đã có hành lang quy định rõ trách nhiệm giữa nhà phát triển thuật toán và người dùng. Luật Dữ liệu ban hành năm 2025 là cột mốc quan trọng nhất tháo gỡ "cơn khát" dữ liệu sạch. Luật cho phép hình thành các Trung tâm dữ liệu quốc gia, định nghĩa rõ việc khai thác dữ liệu thứ cấp cho các mục đích khác nhau sau khi đã ẩn danh hóa.
Với các cơ sở pháp lý này, Việt Nam hoàn toàn có thể triển khai phát triển các ứng dụng AI chuyên biệt trên nền tảng DataOps như mô hình AI Học tập, Mô hình Ngôn ngữ lớn Y tế Việt Nam... tích hợp theo kiến trúc hướng dịch vụ AIaaS.
Bên cạnh đó, để chuyển đổi từ thực trạng sang một hệ sinh thái AI hoàn chỉnh, Việt Nam cần một lộ trình chiến lược chia làm 3 giai đoạn chính, kéo dài từ 2026 đến 2045. Lộ trình này không chỉ là chuyển đổi về công nghệ, mà còn là sự chuyển đổi về tư duy quản trị và hành lang pháp lý với mục tiêu biến Việt Nam trở thành trung tâm khoa học công nghệ toàn cầu vào năm 2045.
“Khi nhắc đến Larry Page và Sergey Brin, không ai nhớ họ có bao nhiêu bài báo, người ta chỉ nhớ đến họ là đồng sáng lập Google. Tương tự, ít ai biết Mark Zuckerberg từng nhận bao nhiêu dự án nghiên cứu, điều được ghi nhận là việc ông góp phần phổ biến mạng xã hội trên toàn cầu“, PGS.TS Lê Hoàng Sơn nhận định.
PGS.TS Lê Hoàng Sơn cho hay, một quốc gia có thể có hàng trăm ngàn nhà khoa học, nhưng chỉ cần vài ngàn nhà khoa học dám dấn thân phát triển công nghệ và hệ sinh thái từ kết quả nghiên cứu khoa học, để từ đó ra vài chục tỷ phú công nghệ như Mark Zuckerberg làm thay đổi xã hội sẽ là thành công lớn của quốc gia đó.
Với khoa học Việt Nam, giấc mơ lớn hơn là xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm khoa học công nghệ có uy tín toàn cầu, thu hút các nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước. Xa hơn nữa là tạo ra các công trình khoa học đẳng cấp thế giới, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước, đưa trí tuệ và công nghệ Việt Nam ra thị trường toàn cầu.
"Việt Nam có thể trở thành trung tâm khoa học công nghệ toàn cầu vào năm 2045 được hay không rất cần nhiều sự thay đổi và dấn thân như vậy”, PGS.TS Lê Hoàng Sơn cho hay.