[e-Magazine]: Giữ đất - giữ làng - giữ hồn Mường [Kỳ 1]

nghi-quyet-11-ky-1-cover-01.jpg
nghi-quyet-11-ky-1-2.jpg

Giữa nhịp đô thị hóa đang lan dần đến những vùng bán sơn địa của Thủ đô, có những người lặng lẽ đi ngược dòng thời gian để níu giữ tiếng chiêng, tiếng Mường và ký ức của cả một cộng đồng. Điều họ thiếu, đôi khi không phải là tình yêu với di sản, mà chỉ là một không gian để văn hóa được sống. Từ câu chuyện của những nghệ nhân ở xã Yên Bài (Hà Nội), một nghị quyết về đất đai bất ngờ mở ra góc nhìn lớn hơn: giữ đất không chỉ để an cư, mà còn để giữ lấy hồn cốt của một vùng văn hóa.

nghi-quyet-11-ky-1-3.jpg

Buổi chiều dưới chân núi Ba Vì luôn xuống rất chậm. Nắng còn vương trên những triền đồi keo, những thửa ruộng xen giữa các xóm Mường. Gió từ dãy núi mang theo mùi đất sau cơn mưa hạ. Trong khoảng lặng ấy, bỗng một tiếng chiêng ngân lên.

Âm thanh trầm, dày, vang xa rồi lan chậm qua những mái nhà, qua lũy tre, qua con đường nhỏ dẫn vào từng xóm của xã Yên Bài.

Có những âm thanh chỉ cần cất lên một lần cũng đủ đánh thức ký ức của cả một cộng đồng. Với người Mường, tiếng chiêng chưa bao giờ chỉ là âm nhạc. Đó là tiếng gọi mở hội. Là lời mời khách quý. Là nhịp chân của ngày cưới. Là lời tiễn biệt người đã khuất trở về với tổ tiên.

Tiếng chiêng đi cùng một đời người Mường, từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc khép lại hành trình nơi dương thế. Có lẽ vì vậy mà người Mường vẫn truyền nhau một câu nói giản dị: "Chiêng còn thì Mường còn".

Giữa buổi chiều ấy, trong căn nhà văn hóa nhỏ xóm Bặn dưới chân núi Ba Vì, hơn chục thành viên của Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống dân tộc Mường xã Yên Bài đang tập lại từng bài chiêng cổ.

Ở giữa vòng người, một người đàn ông tóc đã bạc quá nửa lặng lẽ lắng nghe. Ông gần như không nhìn vào chiếc chiêng. Ánh mắt ông dõi theo từng bàn tay của lớp trẻ.

Một nhịp chiêng lệch. Ông khẽ giơ tay. "Chậm một nhịp..." Giọng nói rất nhẹ. Người đánh chiêng mỉm cười gõ lại. Âm thanh lập tức tròn hơn. Người nghệ nhân cũng mỉm cười...

Nụ cười hiền của người đã dành gần như cả cuộc đời để đi giữ những âm thanh tưởng như rất quen thuộc, nhưng đang lặng lẽ thưa dần giữa cuộc sống hiện đại. Đó là nghệ nhân dân gian, nhạc sĩ Nguyễn Thế Vinh.

nghi-quyet-11-ky-1-4.jpg

Nếu chỉ nhìn vào những buổi biểu diễn cồng chiêng của Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống dân tộc Mường xã Yên Bài trong các ngày hội văn hóa của Hà Nội, ít ai biết rằng phía sau những tràng pháo tay là hành trình bền bỉ kéo dài hàng chục năm của một con người.

Trước khi trở về quê hương, ông Nguyễn Thế Vinh nhiều năm làm công tác nghệ thuật, rong ruổi khắp các bản Mường của Hòa Bình (nay là tỉnh Phú Thọ) để sưu tầm dân ca, mo Mường, cồng chiêng và những giá trị văn hóa đang dần biến mất.

Đó là những chuyến đi không có lịch trình. Không có kinh phí. Cũng không có lời hẹn. Chỉ cần nghe ở đâu còn một cụ già nhớ bài mo cổ, ông lại tìm đến. Nghe ở đâu còn người biết hát sắc bùa, ông lại lên đường.

Có hôm vượt cả chục cây số đường rừng chỉ để ghi lại vài câu hát mà người già bảo: "Nếu hôm nay không chép thì mai chẳng còn ai nhớ".

Ông đi như một người nhặt nhạnh ký ức. Nhặt từng câu hát. Nhặt từng điệu chiêng. Nhặt từng chiếc gùi tre. Nhặt từng chiếc cối giã gạo. Nhặt từng chiếc khung cửi đã phủ bụi thời gian.

Có hiện vật được người dân quý mến tặng lại. Có hiện vật ông phải dành dụm tiền để mua. Lại có những món đồ chủ nhân nhất quyết không bán, ông chỉ xin được đo đạc, chụp ảnh, ghi chép thật cẩn thận.

"Tôi chỉ sợ vài năm nữa chẳng còn ai biết người Mường từng sống như thế nào". Ông nói chậm rãi. Không phải lời than. Mà giống một nỗi lo đã theo ông rất lâu.

Ba năm trước, cùng những người chung tình yêu với văn hóa Mường, ông vận động thành lập Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống dân tộc Mường Yên Bài.

Ngày ấy, chẳng nhiều người tin một câu lạc bộ ở vùng bán sơn địa có thể đi xa. Vậy mà chỉ sau một thời gian ngắn, tiếng chiêng Yên Bài đã nhiều lần vang lên giữa những ngày hội văn hóa của Thủ đô.

Những bài mo được phục dựng. Điệu sắc bùa được biểu diễn trở lại. Các lớp truyền dạy cồng chiêng bắt đầu thu hút thanh thiếu niên.

Khách du lịch đến Ba Vì không chỉ ngắm núi rừng, mà còn dừng chân để nghe những câu chuyện về văn hóa Mường.

Nhìn bề ngoài, đó là một hành trình đầy hy vọng. Nhưng phía sau sự hồi sinh ấy vẫn còn một khoảng trống rất lớn. Khoảng trống ấy... không nằm trong lòng người. Mà nằm ở một điều tưởng như rất giản dị: Một mái nhà dành cho văn hóa.

nghi-quyet-11-ky-1-5.jpg

Buổi tập kết thúc sớm hơn thường lệ vì “Tối nay thôn họp".

Không ai tỏ vẻ bất ngờ.

Những chiếc chiêng lần lượt được hạ xuống. Người lau mặt chiêng bằng tấm khăn mềm. Người gấp lại bộ váy áo Mường vừa mặc biểu diễn. Vài thanh niên cẩn thận xếp từng chiếc ghế nhựa vào góc phòng.

Chỉ vài phút sau, căn phòng lại trở về đúng chức năng vốn có của nó: một nhà văn hóa thôn.

Mọi việc diễn ra lặng lẽ đến mức giống như một thói quen đã tồn tại từ rất lâu. Nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh đứng nhìn mọi người thu dọn rồi mỉm cười hiền hậu:

"Đấy... bọn tôi vẫn thế".

Một câu nói ngắn.

Nhưng phía sau là câu chuyện kéo dài suốt ba năm.

Ba năm kể từ ngày Câu lạc bộ Nghệ thuật truyền thống dân tộc Mường Yên Bài được thành lập, nơi sinh hoạt duy nhất của các nghệ nhân vẫn là căn nhà văn hóa của thôn.

Đó là sự quan tâm rất đáng quý của chính quyền cơ sở. Nhưng cũng chỉ là một giải pháp tạm thời. Muốn tập, câu lạc bộ phải xem hôm nay nhà văn hóa có lịch gì.

Có hôm thôn họp. Có hôm đoàn thanh niên sinh hoạt. Có hôm hội phụ nữ tổ chức chương trình. Có hôm lớp học hè của trẻ nhỏ diễn ra cả ngày. Mỗi lần như vậy, lịch tập lại phải lùi. Không ai phàn nàn. Bởi ai cũng hiểu nhà văn hóa là không gian chung của cộng đồng.

nghi-quyet-11-ky-1-6.jpg

Nhưng chính điều ấy lại đặt những người đang giữ gìn văn hóa Mường vào một nghịch lý. Họ đang gìn giữ ký ức của cả một cộng đồng nhưng lại chưa có nổi một không gian của chính mình.

Ông Vinh nhìn quanh căn phòng rồi chậm rãi nói: "Chúng tôi không cần gì lớn đâu. Chỉ cần có một nơi ổn định để sinh hoạt, để truyền dạy cho lớp trẻ". Ông nói bằng giọng bình thản. Không phải lời đề nghị. Cũng không phải sự than phiền. Chỉ như đang kể một thực tế đã trở nên quen thuộc.

Có lẽ, điều khiến người nghệ nhân trăn trở nhất không phải những buổi tập phải hoãn mà là những hiện vật.

Ông mở điện thoại. Từng bức ảnh hiện lên. Một chiếc cối giã gạo đã lên màu thời gian. Chiếc khung cửi từng dệt nên bao tấm váy Mường. Những chiếc gùi tre, nơm bắt cá, chum nước, cối đá, nông cụ, nhạc cụ... Mỗi hiện vật là một lát cắt của đời sống người Mường.

"Tất cả đều để ở nhà". Ông cười. Nụ cười vẫn hiền như lúc đầu. Nhưng lần này có gì đó chùng xuống. Có hiện vật để trong gian bếp. Có cái dựng ở góc nhà. Có cái gửi tạm nhà người quen vì không còn chỗ. Không ít món đồ phải phủ bạt để tránh mưa nắng. Không phải vì người nghệ nhân không biết quý. Mà bởi... không còn nơi nào khác để gìn giữ.

Ông bảo, nhiều đoàn khách, nhiều trường học từng muốn đến tìm hiểu văn hóa Mường. Nhưng mỗi lần như vậy, câu lạc bộ lại phải đi mượn hiện vật từ nhiều gia đình khác nhau.

Chiếc gùi ở nhà này. Khung cửi ở nhà khác. Chiếc cối lại nằm tận một xóm bên. Mỗi người giữ một ít. Ký ức của cộng đồng vì thế cũng bị chia nhỏ.

"Tôi chỉ ước có một nơi để gom tất cả lại". Ông nói. "Khách đến thì nhìn thấy. Trẻ con đến thì được sờ tận tay. Người già đến thì kể lại câu chuyện của từng hiện vật". Ông dừng một lát. Ánh mắt hướng ra khoảng sân trước nhà văn hóa.

Vài đứa trẻ đang đuổi nhau dưới gốc cây. Chúng cười vang. Người nghệ nhân nhìn theo. Rất lâu. Rồi khẽ nói, gần như chỉ đủ cho chính mình nghe: "Tôi chỉ mong sau này chúng nó vẫn còn biết mình là người Mường...".

Câu nói ấy cứ theo chúng tôi suốt quãng đường rời khỏi nhà văn hóa. Nó khiến chúng tôi nhớ đến một nghịch lý đang diễn ra ở không ít vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Người ta có thể đầu tư rất nhiều để phục dựng một lễ hội. Có thể dựng sân khấu, dựng ánh sáng, dựng chương trình biểu diễn. Nhưng sau khi lễ hội kết thúc, những nghệ nhân lại lặng lẽ mang chiêng về nhà. Những hiện vật lại phủ bụi trong góc bếp. Những câu chuyện chỉ còn được kể khi có khách ghé thăm.

Di sản vẫn còn. Nhưng môi trường để di sản tiếp tục sống thì ngày càng thu hẹp.

Chính ở điểm này, chúng tôi nhớ đến một nhận định rất sâu sắc của PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.

Ông cho rằng, nhiều người vẫn quen nghĩ bảo tồn văn hóa là sưu tầm hiện vật, lập hồ sơ hay phục dựng lễ hội. Nhưng đó mới chỉ là phần nổi.

"Bảo tồn văn hóa truyền thống cần có không gian. Không gian ấy là nơi cộng đồng gặp nhau, nói với nhau bằng tiếng nói của mình, hát những làn điệu của mình, thực hành nghi lễ của mình, truyền dạy cho con cháu những điều mà sách vở không thể thay thế".

Theo ông, văn hóa phi vật thể không tồn tại trong khoảng không trừu tượng. Nó chỉ thực sự sống khi còn cộng đồng, còn nơi chốn và còn những con người thực hành nó trong đời sống hằng ngày.

Nhìn lại câu chuyện ở Yên Bài, chúng tôi chợt nhận ra, điều nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh thiếu không phải là tình yêu dành cho văn hóa Mường. Cũng không phải thiếu người đồng hành. Điều ông thiếu chỉ là... một nơi để ký ức của cả cộng đồng có thể ở cùng nhau.

Và có lẽ, cũng từ chính khoảng trống ấy, một câu hỏi lớn hơn bắt đầu hiện ra: Nếu văn hóa cũng cần một "mảnh đất" để tồn tại, thì một chính sách về đất đai liệu có thể trở thành một chính sách bảo tồn văn hóa?.

nghi-quyet-11-ky-17.jpg

Câu hỏi ấy không chỉ xuất phát từ nỗi trăn trở của nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh. Đó cũng là điều mà Nghị quyết 11/2026/NQ-HĐND quy định chính sách về đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn thành phố Hà Nội đang tìm cách trả lời bằng một cách tiếp cận khác: nhìn đất đai không chỉ như một nguồn lực phát triển hay một chính sách an sinh, mà còn như nền tảng để bảo vệ văn hóa.

Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, nếu chỉ nhìn Nghị quyết dưới góc độ hỗ trợ đất ở, đất sản xuất thì mới chỉ thấy phần "vật chất" của chính sách. Giá trị sâu xa hơn nằm ở chỗ, đất đai không đơn thuần là tài sản, mà là nơi dựng nhà, lập bản, duy trì quan hệ cộng đồng, tổ chức lễ hội, truyền dạy tiếng nói, phong tục, tri thức dân gian và những chuẩn mực văn hóa được tích lũy qua nhiều thế hệ.

Nói cách khác, đó là nơi văn hóa có thể bén rễ. Nhìn trở lại Yên Bài, điều ấy càng trở nên rõ ràng.

Điều nghệ nhân Nguyễn Thế Vinh đau đáu suốt nhiều năm không phải là thiếu những người yêu văn hóa Mường. Điều ông mong mỏi cũng không phải một công trình đồ sộ. Ông chỉ cần một không gian ổn định để lớp trẻ có nơi học đánh cồng chiêng, để những chiếc khung cửi, cối đá, gùi tre và hàng trăm hiện vật thôi phải nằm rải rác trong những căn bếp, góc nhà hay gửi nhờ khắp xóm.

Đó cũng chính là điều mà PGS.TS Bùi Hoài Sơn gọi là "môi trường sống của di sản". Bởi văn hóa phi vật thể không tồn tại trong khoảng không trừu tượng. Nó chỉ thực sự sống khi còn cộng đồng, còn nơi chốn và còn những con người thực hành nó trong đời sống hằng ngày. Một làn điệu dân ca chỉ có ý nghĩa khi còn người hát, còn người nghe. Một lễ hội chỉ sống khi vẫn còn sân làng, nhà cộng đồng, bếp lửa và những người cùng nhau gìn giữ ký ức.

Không gian ấy không thể thay thế bằng những hồ sơ kiểm kê hay vài buổi biểu diễn sân khấu hóa. Và càng không thể tồn tại nếu cộng đồng dần mất đi điểm tựa để gắn kết.

Đó là lý do, theo ông, bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ việc bảo vệ chính không gian văn hóa của cộng đồng. Bảo tồn không chỉ là giữ lại những gì thuộc về quá khứ, mà phải tạo điều kiện để di sản tiếp tục đồng hành với đời sống hôm nay.

Ở góc nhìn ấy, câu chuyện của Yên Bài không còn là câu chuyện riêng của một câu lạc bộ nghệ thuật hay một nghệ nhân. Đó là lát cắt cho thấy mỗi chính sách về đất đai, nếu được thiết kế đúng, đều có thể trở thành một chính sách phát triển văn hóa.

(Còn tiếp)

nghi-quyet-11-ky-18.jpg

Sẽ kiến nghị hoán đổi lịch làm việc để Ngày Văn hoá Việt Nam nghỉ 4 ngày

Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ nghiên cứu, để báo cáo Thủ tướng việc hoán đổi ngày làm việc để kéo dài 4 ngày nghỉ dịp Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11.

Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam sẽ nghiên cứu, cùng với Bộ Nội vụ có phương án phù hợp để báo cáo Thủ tướng việc hoán đổi ngày làm việc để kéo dài 4 ngày nghỉ dịp Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11 năm nay.

Ông Ngọ Duy Hiểu - Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, do vướng quy định của luật, nên Tổng LĐLĐ Việt Nam sẽ nghiên cứu cùng với Bộ Nội vụ có phương án phù hợp để báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.

Đọc nhiều nhất

Tin mới