Điều kỳ khôi của vị tướng 'lắm tài nhiều tật' nổi như cồn thời Trần

Trong lịch sử nhà Trần, hiếm có nhân vật nào gây nhiều tranh cãi như Trần Khánh Dư – một thiên tài quân sự đồng thời cũng là con người đầy tai tiếng, phức tạp.

Sinh ra trong bối cảnh triều Trần đang ở đỉnh cao quyền lực, Trần Khánh Dư (1240-1340) không phải là một nhân vật tầm thường. Ông vốn là người được ban quốc tính, được trọng dụng và nhanh chóng nổi lên như một tướng lĩnh xuất sắc. Sự nghiệp của ông gắn liền với những biến cố lớn của quốc gia, đặc biệt là trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông – một trong những thử thách khắc nghiệt nhất mà Đại Việt từng đối mặt.

Tuy nhiên, điều khiến Trần Khánh Dư trở thành một nhân vật đặc biệt không chỉ nằm ở tài năng quân sự, mà còn ở tính cách và lối sống có phần phóng túng, bất chấp chuẩn mực. Sử cũ ghi lại rằng ông từng dính vào "scandal" tình ái với công chúa Thiên Thụy, người đã có hôn ước với Trần Quốc Nghiễn – con trai của Trần Hưng Đạo. Sự việc này không chỉ là bê bối cá nhân mà còn ảnh hưởng đến danh dự hoàng tộc, khiến ông bị trừng phạt nặng nề, bị tước bỏ chức tước và phải sống lưu lạc.

dau-rong-thoi-tran-01.jpg
Đầu rồng thời Trần. Ảnh: Quốc Lê

Chính biến cố này đã đẩy Trần Khánh Dư từ đỉnh cao danh vọng xuống đáy xã hội. Ông từng phải đi buôn than ở vùng ven biển, sống cuộc đời của một thương nhân bình thường. Nhưng cũng chính giai đoạn tưởng chừng như thất bại ấy lại cho thấy một khía cạnh khác của con người ông, khả năng thích nghi và bản lĩnh sinh tồn mạnh mẽ. Ít ai trong tầng lớp quý tộc thời đó có thể chấp nhận sự sa sút như vậy mà không gục ngã.

Cơ hội trở lại chính trường đến với ông trong bối cảnh đất nước lâm nguy. Khi quân Nguyên chuẩn bị xâm lược lần thứ ba, triều đình nhà Trần buộc phải triệu tập những người có năng lực thực sự. Trần Khánh Dư được phục chức, dù vẫn mang tiếng xấu trong quá khứ. Điều này cho thấy triều đình, đặc biệt là Trần Nhân Tông, đã đặt lợi ích quốc gia lên trên định kiến cá nhân.

Vai trò quan trọng của Trần Khánh Dư thể hiện rõ trong trận Vân Đồn – một chiến thắng mang tính bước ngoặt. Ông được giao nhiệm vụ chặn đánh đoàn thuyền lương của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy. Ban đầu, ông để lọt đoàn thuyền, khiến tình hình trở nên nguy cấp và suýt bị xử tội. Nhưng bằng sự nhạy bén và quyết đoán, ông đã tổ chức phản công, đánh tan đoàn thuyền lương này. Chiến thắng ấy khiến quân Nguyên rơi vào tình trạng thiếu lương thực trầm trọng, góp phần quan trọng dẫn đến thất bại của họ tại Bạch Đằng sau đó.

Điều đáng nói là chiến công này mang đậm dấu ấn “liều lĩnh” – một đặc điểm thường thấy ở Trần Khánh Dư. Ông không phải kiểu tướng cẩn trọng, tuân thủ khuôn phép, mà thường hành động theo trực giác và sự táo bạo. Chính điều này khiến ông vừa đáng khâm phục vừa đáng nghi ngại trong mắt triều đình. Nếu thất bại, ông có thể trở thành tội nhân, nhưng khi thành công, ông lại là người cứu nguy cho cả quốc gia.

Sau chiến tranh, Trần Khánh Dư không trở thành hình mẫu đạo đức như nhiều danh tướng khác. Ông vẫn giữ lối sống có phần xa hoa và thực dụng. Có giai thoại kể rằng ông từng lợi dụng quyền lực để thu lợi riêng, khiến nhiều người không hài lòng. Tuy nhiên, điều đặc biệt là ông dường như không quá bận tâm đến việc xây dựng danh tiếng “trong sạch” cho bản thân. Ông sống theo cách của mình, chấp nhận cả lời khen lẫn tiếng chê.

Chính sự mâu thuẫn này tạo nên một hình tượng rất khác biệt trong lịch sử Việt Nam. Nếu như Trần Hưng Đạo được xem là biểu tượng của trí tuệ và đạo đức, hay Trần Quang Khải đại diện cho tầng lớp quý tộc mẫu mực, thì Trần Khánh Dư lại là hiện thân của một kiểu anh hùng “trần tục” – tài năng, bản lĩnh nhưng đầy khuyết điểm.

Từ góc nhìn hiện đại, Trần Khánh Dư có thể được xem là một nhân vật rất “người”. Ông không phải là hình tượng lý tưởng hóa, mà là một cá nhân với đầy đủ tham vọng, sai lầm và khả năng chuộc lỗi. Điều này khiến câu chuyện của ông trở nên gần gũi và sống động hơn so với nhiều nhân vật lịch sử khác.

Có lẽ điều đáng suy ngẫm nhất về Trần Khánh Dư không phải là những lỗi lầm hay chiến công riêng lẻ, mà là cách ông luôn có cơ hội đứng dậy sau vấp ngã. Trong một xã hội phong kiến vốn đề cao danh dự và trật tự, việc một người từng bị thất sủng vẫn có thể trở lại và đóng vai trò quan trọng là điều không hề phổ biến. Điều đó phản ánh không chỉ cá tính mạnh mẽ của ông mà còn là sự linh hoạt hiếm có của triều Trần trong việc sử dụng nhân tài.

Nhìn lại, Trần Khánh Dư là minh chứng cho một sự thật đơn giản nhưng sâu sắc: con người không bao giờ chỉ có một mặt. Ông vừa là kẻ gây tai tiếng, vừa là người lập đại công, vừa bị khinh miệt, vừa được trọng dụng. Chính sự đối lập ấy đã khiến ông trở thành một trong những nhân vật thú vị và “kỳ khôi” nhất của lịch sử Việt Nam.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt sử ký toàn thư/ Ngô Sĩ Liên.

Khâm định Việt sử Thông giám cương mục/ Quốc sử quán triều Nguyễn.

Việt Nam sử lược/ Trần Trọng Kim.

Xem video: Bộ Cửu Đỉnh triều Nguyễn - bảo vật độc đáo của cố đô Huế

Mỹ nhân tuyệt sắc nào khiến triều đình khuynh đảo?

Vừa nổi tiếng xinh đẹp vừa tai tiếng lẫy lừng, Trương Lệ Hoa – vị quý phi cuối thời Nam triều nhà Trần – đã để lại dấu ấn khó phai trong lịch sử.

Trương Lệ Hoa - Mỹ nhân phá nát cơ nghiệp nhà Trần tại Trung Quốc

Trương Lệ Hoa sinh ra trong một gia đình binh gia đã suy sụp tại Dương Châu, Giang Nam. Cha và anh trai phải đan chiếu mưu sinh qua ngày, còn chính bà thuở nhỏ cũng phải làm việc đồng áng nặng nhọc để phụ giúp gia đình. Nhưng số phận dường như đã định sẵn cho cô gái nghèo ấy một con đường khác. Ngay từ khi còn nhỏ, Trương Lệ Hoa đã nổi tiếng với nhan sắc tuyệt mỹ: da trắng như tuyết, mắt đen láy, mày cong như vẽ, mái tóc dài tới bảy thước đen mượt đến mức soi gương được. Vẻ đẹp ấy khác hẳn với người thường, nên cha mẹ đặt tên con là “Lệ Hoa” – bông hoa đẹp rực rỡ giữa nhân gian. Không chỉ xinh đẹp, bà còn thông minh, trí nhớ tuyệt vời và có tài ăn nói bẩm sinh. Nhiều giai thoại kể rằng bà có thể nhớ và ngâm lại trôi chảy những bài thơ, lời ca vừa nghe qua một lần, giỏi đàn hát và múa, đồng thời rất nhạy bén trong việc nhìn người và ứng xử – những tố chất khiến bà trở thành một nhân vật đặc biệt trong hậu cung nhà Trần sau này.

Tiết lộ sốc về cuộc tranh ngôi chấn động triều Trần

Xung đột trong nội bộ hoàng tộc là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự cáo chung của nhà Trần và sự xuất hiện của nhà Hồ.

Triều Trần (1225–1400) được xem là một trong những triều đại hưng thịnh nhất trong lịch sử Việt Nam trung đại, đặc biệt là giai đoạn thế kỷ 13 với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông. Tuy nhiên, phía sau ánh hào quang của những chiến công lẫy lừng là một cấu trúc quyền lực hoàng tộc phức tạp, đan xen giữa tinh thần gia tộc, chế độ "thái thượng hoàng" đặc thù, và những mâu thuẫn âm ỉ trong việc kế thừa vương vị. Những xung đột trong nội bộ hoàng tộc triều Trần, đặc biệt từ cuối thế kỷ 14, không chỉ làm suy yếu sức mạnh chính trị trung ương mà còn là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự cáo chung của nhà Trần và sự xuất hiện của nhà Hồ.

Một trong những nét đặc trưng trong cơ chế kế vị của triều Trần là việc truyền ngôi sớm khi vua còn sống và nhường quyền điều hành đất nước cho thế hệ kế cận, trong khi bản thân vẫn giữ vai trò Thái thượng hoàng. Mô hình này được khởi đầu bởi Trần Thái Tông (Trần Cảnh), người lên ngôi năm 1225 sau cuộc nhường ngôi của Lý Chiêu Hoàng. Khi vua truyền ngôi cho con là Trần Thánh Tông và lui về làm Thái thượng hoàng, ông vẫn giữ vai trò quyết định trong việc điều hành triều chính. Truyền thống đó tiếp tục qua các đời vua Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, tạo nên một cơ chế kế vị tưởng như hiệu quả và ổn định. Tuy nhiên, sự hiện diện song hành của hai thế hệ nắm quyền – vua và Thái thượng hoàng – về lâu dài đã tạo nên sự chồng chéo quyền lực và mầm mống xung đột trong nội bộ hoàng gia.

Vị vua duy nhất tử trận trong lịch sử Việt Nam

Trần Duệ Tông là vị vua thứ 9 của triều đại nhà Trần. Là con của vua Trần Minh Tông, mẹ là Đôn từ Hoàng Thái Phi. Tuy mang nhiều hoài bão cũng như sự quyết đoán và mạnh mẽ, nhưng đáng tiếc lại tử trận trên sa trường.

Vua Trần Duệ Tông (1336 – 1377), tên thật là Trần Kính, là con thứ 11 của vua Trần Minh Tông. Lên ngôi năm 37 tuổi, dù chỉ ở ngôi 4 năm nhưng thời gian trị vì ông đã để lại nhiều ấn tượng về tài năng, sự liêm khiết của đa số quan lại.

Duệ Tông còn là vị vua hiếm có của nhà Trần có lòng quả cảm, ý thức tự lập tự cường, coi trọng thuần phong, chấn hưng Đại Việt.

Tham lễ vật, hại nhà vua

Sau khi lên ngôi vua, Trần Duệ Tông chủ trương chọn người thực tài phục vụ quốc gia, không đề cao yếu tố tôn thất.

Những nho sĩ thời đó như Trạng nguyên Đào Sư Tích, Bảng nhãn Lê Hiến Phủ, Thám hoa Trần Đình Thám… đều xuất thân từ bình dân và rất được coi trọng.

Để đối phó với sự quấy rối từ quốc gia lân bang, quân đội dưới thời vua Trần Duệ Tông được tổ chức chặt chẽ. Đặc biệt, ý thức dân tộc ở thời kỳ này rất được chú trọng. Vua hạ lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm – Lào. Bên cạnh đó, ông còn quy định cụ thể về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục…

Trên cương vị người lãnh đạo tối cao của dân tộc Đại Việt, vua Trần Duệ Tông luôn chứng tỏ mình là một con người có cá tính và đầy quyết đoán. Tuy nhiên, chính sự chứng tỏ không đúng nơi đúng chốn đã khiến vị vua thứ 9 của nhà Trần phải tử trận nơi sa trường.

Trước và sau khi Trần Duệ Tông lên ngôi, Đại Việt thường hay bị Chiêm Thành xâm lấn. Trần Duệ Tông xác định và ra sức xây dựng quân đội hòng dùng binh lực áp chế Chiêm Thành theo cách triệt để. Không ngờ đó lại là mầm họa không chỉ với bản thân ông, mà còn khiến triều đại nhà Trần suy yếu và tiến gần đến bờ diệt vong.

Năm 1376, chúa Chiêm là Chế Bồng Nga mang quân xâm lấn, đánh vào vùng Hoá Châu (Nghệ An). Trần Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh, Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Nhận vàng, Đỗ Tử Bình liền giấu vua Trần mà lấy làm của riêng, lại còn bịa đặt tâu vua rằng Chế Bồng Nga vô lễ, cần phải đem quân đi hỏi tội. Trần Duệ Tông tưởng thật, giận lắm, cất quân đi đánh Chiêm Thành ngay.

Tháng 1 năm Đinh Tỵ (1377), vua Trần Duệ Tông thân cất quân Đại Việt đi đánh Chiêm Thành. Sau khi đánh dẹp nhiều đồn lũy của đối phương, quân Trần vây thành Đồ Bàn - kinh đô vua Chiêm. Thấy khó chống, quân Chiêm bèn lập mưu cho người trá hàng nói Chế Bồng Nga đã bỏ trốn và chấp nhận mất thành.

Vua Trần Duệ Tông trúng kế, ra lệnh tiến quân vào thành. Khi quân Đại Việt đến chân thành thì quân Chiêm từ 4 phía đổ ra đánh. Đại quân của vua Trần Duệ Tông vỡ trận đại bại, bản thân vua chết trong đám loạn quân.

Vi vua duy nhat tu tran trong lich su Viet Nam

Minh họa trận chiến thành Đồ Bàn.
Quyết đoán hóa ương gàn

Vi vua duy nhat tu tran trong lich su Viet Nam-Hinh-2

Tượng thờ vua Trần Duệ Tông.

Về trận đánh này, sách “Đại Việt sử kí toàn thư” chép như sau: “Mùa xuân, tháng Giêng, ngày 23, đại quân tiến đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn, Bình Định ngày nay) của Chiêm Thành, sau lên đến Thạch Kiều, đóng lại ở động Ỷ Mang (nay chưa rõ là đâu).

Chế Bồng Nga cho dựng trại phía ngoài thành Đồ Bàn (cũng tức Chà Bàn, nay thuộc Bình Định), sai viên quan nhỏ là Mục Bà Ma đến trá hàng, nói dối là Chế Bồng Nga đã chạy trốn, nay thành trống không, vậy nên tiến quân gấp, chớ bỏ lỡ cơ may.

Ngày 24, vua mặc áo đen, cưỡi ngựa đen pha sắc trắng, sai Ngự Câu Vương Húc mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng, kíp truyền lệnh tiến quân. Đại tướng Đỗ Lễ thấy vậy can rằng: Nó hàng là bởi trước muốn bảo toàn đất nước.

Quan quân đi vào sâu để đánh phá thành là việc bất đắc dĩ, vậy xin hãy sai một biện sĩ mang thư đến hỏi tội, cốt xem hư thực ra sao, ấy cũng như kế của Hàn Tín phá nước Yên thuở xưa, không phải khó nhọc mà vẫn thành công vậy. Cổ nhân nói lòng giặc khó lường, thần xin bệ hạ hãy xét kĩ lại.

Vua nói: Ta mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi để vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu, thế là cơ trời giúp ta đó. Huống chi, nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ kháng cự.

Cổ nhân nói, dùng binh cốt ở thần tốc, nay nếu dừng lại không tiến, thì đúng là trời cho mà không lấy, giặc lập cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà.

Nói rồi lấy áo đàn bà cho Lễ mặc. Quân lính bèn nối gót nhau mà đi như xâu cá, cánh trước cánh sau cách biệt, giặc thừa cơ xông ra đánh chặn. Giờ Tỵ, quan quân tan vỡ. Vua bị hãm trong trận mà chết, bọn Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả”.

Trận này, Đỗ Tử Bình chỉ huy hậu quân, không chịu đến cứu nên thoát được, còn Hồ Quý Ly thì lo việc quân lương ở phía sau, nghe tin vua chết cũng lập tức chạy về. Cái chết giữa thành Đồ Bàn khiến vua Trần Duệ Tông trở thành vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam hi sinh chết trên chiến trường.

Tuy nhiên, Trần Duệ Tông được đánh giá là vị vua có cá tính mạnh mẽ, mang hoài bão chấn hưng quốc gia. Nếu ông không chủ quan mà sớm bỏ mạng, Đại Việt ít ra có thể giảm thiểu được họa Chiêm Thành trong những năm tiếp theo. Và chừng nào còn ông, Hồ Quý Ly khó trở thành quyền thần mà thao túng triều đình. Cái chết của Trần Duệ Tông được xem là mất mát cho Đại Việt và cho nhà Trần.

Vi vua duy nhat tu tran trong lich su Viet Nam-Hinh-3

Di tích Nguyên Lăng chôn cất vua Trần Nghệ Tông.

Các nhà sử học sau này đã có nhiều phán xét trái ngược nhau. Có ý kiến cho rằng, ông đáng chê trách vì sự hiếu thắng và chủ quan khinh địch dẫn đến hậu quả thảm khốc cho quân đội Đại Việt. Nhưng cũng có người khẳng định Trần Duệ Tông phải được kính trọng vì bản lĩnh, khí phách và cái chết cho lý tưởng chấn hưng dân tộc.

Có một điều không thể phủ nhận, cái chết của vua Trần Duệ Tông là một bước ngoặt lịch sử lớn đối với nhà Trần, và thậm chí là cả tiến trình lịch sử của dân tộc.

Sau cái chết của ông, những người kế vị đều tỏ ra nhu nhược, triều đình ngày càng hỗn loạn. Vua anh Trần Nghệ Tông vốn hoàn toàn dựa vào ông, nay phải dựa vào Hồ Quý Ly, kẻ quyền thần nắm quyền thao túng triều chính và sau này đã làm sụp đổ hoàn toàn cơ nghiệp nhà Trần.

Không còn một người cứng rắn như Trần Duệ Tông, quân Chiêm Thành được thể ngày càng lấn tới, trở thành một mối họa cho Đại Việt. Vua Trần Nghệ Tông tỏ ra bất lực hoàn toàn, sau này hễ vua Chế Bồng Nga tiến đánh lên phía Bắc là chỉ biết cùng Lê Quý Ly bỏ thành tháo chạy.

Trời sinh ra một người để phá hoại

Vi vua duy nhat tu tran trong lich su Viet Nam-Hinh-4

Đền thờ Cung phi Nguyễn Thị Bích Châu tại Hà Tĩnh – nơi bà gieo mình xuống biển.

Trong trận chiến thành Đồ Bàn, ngoài vua Trần Duệ Tông tử trận, các đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hào, hành khiển Phạm Huyền Linh cũng không qua khỏi. Đỗ Tử Bình sau đó bị thượng hoàng Trần Nghệ Tông bắt, bỏ trong xe tù đi rao khắp phố. Khi Đỗ Tử Bình về qua phủ Thiên Trường, người dân đua nhau chửi mắng, lấy gạch ngói ném vào xe tù. Thượng hoàng xuống chiếu trị tội nhưng miễn tử hình, bắt đi làm lính. Tuy nhiên, không lâu sau, Đỗ Tử Bình lại được phục chức.

Tháng 5/1378, Chế Bồng Nga đưa hàng vương Trần Húc về nước, đánh cướp ở vùng Nghệ An, Trần Nghệ Tông lại phục chức cho Đỗ Tử Bình, sai ra chống giữ. Cũng như lần trước, Đỗ Tử Bình đánh không lại khiến quân đội của Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ ba, bắt người cướp của rồi rút về.

Năm 1380, vua Chiêm lại dụ dân Tân Bình và Thuận Hóa đi cướp phá Nghệ An và tiến lên Thanh Hóa. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông sai Hồ Quý Ly lĩnh quân thủy và Đỗ Tử Bình dẫn quân bộ ra chống. Tới tháng 5, quân Chiêm không đánh được phải rút lui. Sau trận đánh này, Đỗ Tử Bình cáo ốm, xin rút lui không giữ binh quyền nữa.

Tháng 11 năm đó, Trần Nghệ Tông phong Đỗ Tử Bình làm Nhập nội hành khiển tả tham tri chính sự, lĩnh chức Kinh lược sứ Lạng Giang. Nhậm chức được vài năm thì Đỗ Tử Bình qua đời.

Viết về Đỗ Tử Bình, sử thần Ngô Thì Sĩ nhận định: “Nước đến khi sắp mất, tất nhiên trời sinh ra một người để phá hoại. Việc Đỗ Tử Bình được tiến cử, là lúc mối hấn khích ở biên giới Nhật Nam đã chớm nảy nở, cái nguy cơ tai họa của Trần Duệ Tông đã ngấm ngầm phục sẵn, mà từ đó, dần dần gây ra mối suy sụp cho cơ nghiệp nhà Trần”.

Theo nguồn sử liệu của học giả Trần Trọng Kim: Tuy vua Trần Duệ Tông ở ngôi vị không lâu nhưng chăm chỉ lo võ bị, cũng không quên việc văn học. Năm Giáp Dần (1374) mở khoa thi tiến sĩ, lấy hơn 50 người cho áo mũ vinh quy. Trước vẫn có thi thái học sinh, đến bấy giờ mới đổi ra là thi tiến sĩ.

Đọc nhiều nhất

Tin mới