Đậu lăng – thực phẩm nhỏ bé giàu protein thực vật và chất xơ

Đậu lăng giàu protein thực vật, chất xơ, folate và khoáng chất, có thể kết hợp với rau củ tạo thành những món ăn đơn giản, thơm ngon và giàu dinh dưỡng.

Đậu lăng là một trong những loại đậu được sử dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, đặc biệt ở khu vực Nam Á, Trung Đông và Địa Trung Hải. Hạt nhỏ, dễ nấu, có vị bùi nhẹ và khả năng kết hợp với nhiều nguyên liệu khiến đậu lăng trở thành thực phẩm linh hoạt trong bữa ăn.

Đậu lăng là nguồn cung cấp protein, folate, chất xơ, sắt, kali và mangan. Loại đậu này cũng chứa polyphenol – nhóm hợp chất thực vật có hoạt tính chống oxy hóa. Đặc biệt, đậu lăng có cả chất xơ hòa tan và không hòa tan, giúp tăng thêm giá trị dinh dưỡng cho loại thực phẩm này.

anh-chup-man-hinh-2026-10-1738.png
Đậu lăng giàu protein thực vật, chất xơ, folate và khoáng chất, có thể kết hợp với rau củ tạo thành những món ăn đơn giản, thơm ngon và giàu dinh dưỡng. Ảnh: @Meta AI.

Nguồn protein thực vật đáng chú ý

Trong chế độ ăn hằng ngày, protein thường được cung cấp từ thịt, cá, trứng và sữa. Tuy nhiên, các loại đậu có thể bổ sung một nguồn protein thực vật đáng kể, đồng thời cung cấp chất xơ mà nhiều thực phẩm động vật không có.

Một ưu điểm khác là đậu lăng chứa rất ít chất béo bão hòa và có hàm lượng natri tự nhiên thấp. Các chuyên gia cho biết, loại đậu này còn chứa tinh bột kháng tiêu hóa chậm, có thể làm chậm quá trình hấp thu carbohydrate. Đây là một trong những lý do đậu lăng được nghiên cứu trong mối liên hệ với kiểm soát đường huyết và sức khỏe đường ruột.

Chất xơ giúp bữa ăn no lâu hơn

Chất xơ là một trong những thành phần nổi bật nhất của đậu lăng. Chất xơ không chỉ hỗ trợ hoạt động của hệ tiêu hóa mà còn góp phần tạo cảm giác no, từ đó giúp bữa ăn có cấu trúc cân bằng hơn.

Đậu lăng cũng cung cấp prebiotic – nguồn dinh dưỡng cho một số vi khuẩn có lợi trong đường ruột. Các chuyên gia lưu ý rằng, tinh bột kháng và các thành phần chất xơ trong đậu lăng có thể hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột.

Ngoài ra, đậu lăng chứa protein, acid amin thiết yếu, khoáng chất, chất xơ và các hợp chất phenolic. Những thành phần này đang được nghiên cứu về khả năng chống oxy hóa, chống viêm và hỗ trợ sức khỏe chuyển hóa. Tuy nhiên, các kết quả về tác dụng điều trị bệnh vẫn cần được diễn giải thận trọng, không nên coi đậu lăng như một loại thuốc.

Đậu lăng có nhiều loại, cách nấu cũng khác nhau

Trên thị trường có đậu lăng xanh, nâu, đen, đỏ, vàng và cam. Đậu nguyên hạt thường giữ hình dạng tốt sau khi nấu, trong khi đậu lăng đỏ đã tách vỏ dễ mềm và tan thành dạng sệt. Sự khác biệt này quyết định cách sử dụng. Đậu lăng nguyên hạt thích hợp với salad, món hầm hoặc món ăn cần giữ kết cấu. Đậu lăng đỏ lại phù hợp với súp, cà ri và các món sốt đặc.

Đậu lăng khô thường không cần ngâm lâu như một số loại đậu khác. Có thể rửa sạch, kiểm tra loại bỏ hạt hỏng rồi nấu trực tiếp với nước hoặc nước dùng. Đậu lăng đóng hộp tiện lợi hơn nhưng nên kiểm tra hàm lượng muối và có thể tráng sơ qua nước trước khi chế biến.

Công thức cà ri đậu lăng rau củ

Một công thức dễ thực hiện là cà ri đậu lăng rau củ. Công thức gốc cho 4 khẩu phần và có khoảng 19 g protein, 6 g chất xơ mỗi khẩu phần.

anh-chup-man-hinh-2026-10-3301.png
Món cà ri đậu lăng rau củ ăn cùng cơm nóng. Ảnh: @Meta AI.

Nguyên liệu:

100 g đậu lăng đỏ.

2 củ hành tây.

Khoảng 750 g rau củ hỗn hợp gồm khoai lang hoặc khoai tây, cà rốt, nấm, đậu Hà Lan.

850 ml nước dùng rau củ (nấu từ cà rốt, củ cải trắng, bắp, hành tây, su hào, củ đậu (sắn), bí đỏ hoặc mía.

4 thìa canh sốt cà ri.

Cơm trắng dành cho 4 người

2 thìa canh dầu thực vật

Một ít rau mùi tây.

Bột nêm vừa đủ.

Cách làm:

Đun nóng dầu trong nồi lớn, cho hành tây thái múi vào xào khoảng 8 phút đến khi vàng. Thêm sốt cà ri vào, đảo chung khoảng 1 phút rồi từ từ cho nước dùng rau củ quả vào.

Tiếp tục cho rau củ hỗn hợp gồm khoai lang hoặc khoai tây, cà rốt, nấm, đậu Hà Lan vào nồi, đậy nắp và đun nhỏ lửa khoảng 5 phút. Sau đó thêm đậu lăng đỏ, nấu thêm 25 phút cho đến khi đậu lăng và rau củ mềm.

Khi món cà ri hoàn thành, nêm gia vị bột nêm vừa ăn, thêm một ít rau mùi tây rồi dùng cùng cơm trắng nóng hổi.

Xem video: “Thế nào là dinh dưỡng cân bằng?”. Nguồn video: Bệnh viện ĐKQT Vinmec.

[GALLERY] 8 món ăn dễ tìm giúp hỗ trợ giảm mỡ nội tạng

Bên cạnh vận động và kiểm soát tổng lượng calo, lựa chọn thực phẩm giàu chất xơ, protein và chất béo không bão hòa có thể hỗ trợ kiểm soát mỡ nội tạng.

4-1399.jpg
Cá hồi cung cấp protein giúp tăng cảm giác no, đồng thời giàu chất béo omega-3. Khi đưa cá hồi vào chế độ ăn cân bằng, bạn có thể thay thế một số nguồn chất béo bão hòa bằng chất béo không bão hòa có lợi hơn. Nên áp chảo ít dầu, hấp hoặc nướng, kết hợp rau xanh và hạn chế sốt nhiều đường, bơ hoặc kem. Có thể ăn khoảng 2–3 bữa cá mỗi tuần, luân phiên cá hồi với các loại cá khác. Ảnh: Bách hoá XANH
2.jpg
Yến mạch cũng là món ăn giúp giảm mỡ nội tạng. Yến mạch chứa beta-glucan, một dạng chất xơ hòa tan giúp tăng cảm giác no và hỗ trợ kiểm soát cholesterol. Đây là lựa chọn phù hợp cho bữa sáng thay cho các món nhiều đường, tinh bột tinh chế. Có thể nấu cháo yến mạch với trứng, sữa không đường hoặc kết hợp sữa chua và trái cây. Nên ưu tiên yến mạch nguyên chất thay vì loại ăn liền có nhiều đường. Ảnh: Bách hoá XANH

5 món ăn sáng 'đội lốt healthy' khiến cơ thể dễ quá tải đường, muối

Từ ngũ cốc ăn liền, nước ép đến các loại hạt tẩm vị, cách chọn thực phẩm và khẩu phần mới quyết định một bữa sáng có thực sự lành mạnh hay không.

Chị Nguyễn Thị Tâm (Hà Nội) và nhiều người đang thực hiện các bữa sáng "healthy" để tốt cho sức khỏe nhưng khi đi khám bệnh các chỉ số về mỡ máu, đường huyết lại ở mức báo động. Bác sĩ cảnh báo về việc ăn sáng "healthy" không đúng cách khiến người bệnh hoang mang không rõ thực hư.

"Chất ẩn" âm thầm hại sức khỏe sau món ăn lành mạnh

5 công dụng bất ngờ của thì là

Thì là không chỉ là loại rau gia vị quen thuộc giúp món ăn dậy mùi thơm mà còn chứa nhiều dưỡng chất và hợp chất chống oxy hóa, có thể hỗ trợ giảm cholesterol.

Thì là là loại thảo mộc quen thuộc trong bữa ăn của nhiều gia đình. Tuy nhiên, ít người biết loại rau gia vị này từng được sử dụng từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, vừa làm gia vị vừa làm thuốc.

Tiến sĩ, lương y Phùng Tuấn Giang, Chủ tịch Viện Nghiên cứu phát triển Y dược Cổ truyền Việt Nam, cho biết thì là có nguồn gốc từ khu vực Địa Trung Hải. Loại cây này cung cấp canxi, mangan, sắt và nhiều hợp chất chống oxy hóa. Các flavonoid trong thì là được cho là có đặc tính chống viêm và kháng virus.

Đọc nhiều nhất

Tin mới