Việt Nam Giải phóng quân- lực lượng nòng cốt trong Tổng khởi nghĩa

Từ những đội tự vệ, du kích ban đầu, Việt Nam Giải phóng quân từng bước trở thành lực lượng nòng cốt cùng toàn dân làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám 1945.

Từ những đội tự vệ đến các trung đội Cứu quốc quân

Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, Đại tá, TS Nguyễn Thành Hữu, nguyên cán bộ nghiên cứu lịch sử Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam cho hay, Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương đã chỉ rõ, trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam, khi kẻ thù luôn dùng bạo lực đàn áp quần chúng, con đường giành độc lập phải là con đường cách mạng bạo lực.

Tháng 5/1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định cuộc cách mạng Đông Dương phải kết thúc bằng khởi nghĩa võ trang, đồng thời quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng lực lượng vũ trang, đổi tên các tổ chức trong mặt trận thành Hội Cứu quốc, trong đó có Đội Tự vệ cứu quốc. Công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang được xúc tiến mạnh mẽ, hoàn thiện thêm những quan điểm của Đảng về vũ trang khởi nghĩa ở Việt Nam.

du-kich-bac-son.jpg
Du kích tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tháng 9/1940. Ảnh tư liệu

Theo tinh thần đó, các đội du kích, tự vệ được xây dựng ở nhiều nơi thuộc Cao Bằng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo duy trì, phát triển lực lượng và cử cán bộ tăng cường cho Đội du kích Bắc Sơn. Tổng Bí thư Trường Chinh phổ biến Nghị quyết Trung ương 8 cho cán bộ, chiến sĩ và quyết định đổi tên Đội du kích Bắc Sơn thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn.

Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn là Trung đội Cứu quốc quân I, thành lập ngày 14/2/1941 tại Khuổi Nọi, Vũ Lễ, Bắc Sơn, Lạng Sơn, do đồng chí Phùng Chí Kiên làm chỉ huy trưởng, đồng chí Lương Văn Chi làm chính trị viên.

Ngày 15/9/1941, Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập tại Khuôn Mánh, Ngọc Mỹ, Tràng Xá, Thái Nguyên, do đồng chí Chu Văn Tấn trực tiếp chỉ huy, đồng chí Nguyễn Cao Đàm làm chính trị viên. Ngày 25/2/1944, Trung đội Cứu quốc quân III được thành lập tại Khuổi Kịch, Tân Lập, Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang, do đồng chí Triệu Khánh Phương làm trung đội trưởng, đồng chí Phương Cương làm chính trị viên.

Trên cơ sở Đội du kích Bắc Sơn, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển thành các trung đội Cứu quốc quân I, II, III.

Ngày 22/12/1944, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại châu Nguyên Bình, Cao Bằng, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tư tưởng chỉ đạo xây dựng và tác chiến được Hồ Chí Minh chỉ rõ trong chỉ thị thành lập, được xác định là cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng, đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ chuẩn bị Tổng khởi nghĩa.

Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng từng bước hình thành. Theo TS Nguyễn Thành Hữu, chiến tranh du kích và căn cứ địa là hai yếu tố cơ bản của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước kẻ địch có ưu thế về sức mạnh quân sự.

Hai khu du kích đầu tiên là khu căn cứ Cao Bằng và khu căn cứ Bắc Sơn - Vũ Nhai. Cuối năm 1943, hai khu được nối liền, tạo thế liên hoàn, làm tiền đề cho sự ra đời Khu giải phóng Việt Bắc ngày 6/4/1945, gồm Cao - Bắc - Lạng, Hà - Tuyên - Thái và vùng ngoại vi.

Các căn cứ kháng Nhật như chiến khu Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Vần - Hiền Lương, khu du kích Ba Tơ trực tiếp thúc đẩy phong trào cách mạng tại chỗ, đồng thời chi viện, hỗ trợ đấu tranh cho các địa phương khác trong những ngày Tổng khởi nghĩa.

Tại Nam Bộ, lực lượng vũ trang cách mạng được tuyển chọn, xây dựng từ đội ngũ Thanh niên tiền phong, tổ chức do Xứ ủy Nam Kỳ thành lập sau ngày 9/3/1945. Đến tháng 8/1945, lực lượng này có khoảng 20.000 người. Ngày 22/8/1945, Thanh niên tiền phong tuyên bố gia nhập Việt Minh và trở thành thành viên của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ, góp phần hỗ trợ nhân dân làm nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các tỉnh Nam Bộ.

Việt Nam Giải phóng quân tiến vào những ngày Tổng khởi nghĩa

Theo Đại tá Nguyễn Thành Hữu, nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc Kỳ, ngày 15/5/1945, tại đình làng Quặng, Định Biên, Định Hoá, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các đội vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân.

Sự ra đời của Việt Nam Giải phóng quân đánh dấu bước phát triển quan trọng của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Với tổ chức, biên chế chặt chẽ, thống nhất, lực lượng này trở thành lực lượng nòng cốt bảo vệ căn cứ địa, vùng giải phóng, bảo vệ chính quyền cách mạng ở những nơi mới thành lập và cùng toàn dân tiến lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Từ tháng 5/1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp là Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân; tháng 6/1945, ông được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng và là ủy viên Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc.

vo-nguyen-giap.jpg
Đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc lời tuyên thệ trong ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Ảnh Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.

Giữa tháng 5 và tháng 6/1945, Nhật huy động 2.000 quân, chia làm 3 mũi tiến đánh vùng sông Lô và đường số 3 nhằm tiêu diệt Việt Nam Giải phóng quân và cơ quan đầu não lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân phối hợp với du kích, tự vệ địa phương đánh bại cả 3 mũi tiến công, bảo vệ căn cứ địa cách mạng.

Ngày 4/6/1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị cán bộ 6 tỉnh Việt Bắc bàn việc lập khu giải phóng. Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị công nhận tên “Việt Nam Giải phóng quân” cho toàn thể bộ đội trong nước. Khu giải phóng Việt Bắc ra đời, trở thành hậu phương vững chắc cho lực lượng vũ trang xây dựng và phát triển.

Ngày 8/6, chiến khu Đông Triều được thành lập. Ngày 20/6, tại Quỳnh Lưu (Ninh Bình), trung đội Giải phóng quân của chiến khu Hòa - Ninh - Thanh được thành lập.

Ngày 1/7/1945, Ủy ban Quân sự cách mạng Bắc Kỳ và Bộ Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân kêu gọi đồng bào, chiến sĩ cả nước: “Cơ hội có một không hai đã ở trong tay chúng ta. Thống nhất, hy sinh, kiên quyết chiến đấu, nhất định chúng ta sẽ thắng”.

Ngày 16/7/1945, một trung đội Việt Nam Giải phóng quân tiến công đồn Tam Đảo, tiêu diệt gần hết quân Nhật. Bốn ngày sau, lực lượng vũ trang chiến khu Đông Triều cùng nhân dân đánh chiếm thị xã Quảng Yên và huyện lỵ Yên Hưng. Các đơn vị khác lần lượt mở rộng hoạt động, hỗ trợ phong trào cách mạng tại nhiều địa phương.

Tháng 8/1945, khi quân Nhật bại trận, đầu hàng Đồng minh, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng ở Tân Trào, quyết định phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước và cử ra Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Trung ương Đảng quyết định chấn chỉnh, phát triển bộ đội; tổ chức thêm những bộ đội mới, chỉnh đốn đội tự vệ chiến đấu và tiểu tổ du kích để thành lập Giải phóng quân ở ngoài khu giải phóng.

giai-phong-quan.jpg
Quang cảnh ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại khu rừng Trần Hưng Đạo. Ảnh tư liệu

Đêm 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1, kêu gọi các tướng sĩ và đội viên Quân giải phóng Việt Nam tập trung lực lượng, tiến công vào các đô thị, trọng trấn của quân địch, đánh chặn đường rút lui và tước vũ khí của chúng.

Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân khai mạc tại Tân Trào, Sơn Dương, Tuyên Quang, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng; quy định quốc kỳ, quốc ca; thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh; cử Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Việt Nam Giải phóng quân cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.

14h ngày 16/8/1945, thi hành mệnh lệnh của Ủy ban Khởi nghĩa, đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc Quân lệnh số 1, trực tiếp giao nhiệm vụ và chỉ huy Chi đội 3 Việt Nam Giải phóng quân tiến về thị xã Thái Nguyên, tiến công quân Nhật và tay sai, giải phóng thị xã, phối hợp với quần chúng lập chính quyền cách mạng và mở đường đưa lực lượng, cán bộ cách mạng từ chiến khu tiến về phía nam và Hà Nội.

Chi đội 3 gồm 3 đại đội bộ binh, một trung đội hỏa lực, khoảng 450 người, cùng lực lượng chính trị và các lực lượng tự vệ, du kích địa phương phối hợp. Trận đánh quân Nhật ở Thái Nguyên là trận đánh lớn nhất trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, buộc địch phải đầu hàng, thu 600 khẩu súng các loại. Đây là một trong những chiến công lớn của Chi đội 3 và quần chúng địa phương, thể hiện sự sáng tạo trong chỉ đạo tận dụng thời cơ, kết hợp đấu tranh chính trị và công tác binh địch vận.

Trong khi Việt Nam Giải phóng quân đang tiến đánh địch ở Thái Nguyên thì ngày 19/8, nhân dân Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền. Theo lệnh của Chính phủ lâm thời, đồng chí Võ Nguyên Giáp và đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ Việt Nam Giải phóng quân về Hà Nội nhận nhiệm vụ mới, chỉ để một bộ phận ở lại cùng tự vệ, du kích Thái Nguyên tiếp tục bao vây quân Nhật. Đến ngày 26/8, quân Nhật ở Thái Nguyên buộc phải chấp nhận những điều kiện do ta nêu ra, trao toàn bộ vũ khí cho Việt Nam Giải phóng quân.

Từ ngày 12/8/1945, các đơn vị Việt Nam Giải phóng quân khác cùng lực lượng tự vệ và nhân dân địa phương Bắc - Trung - Nam đã nổi dậy chiếm đồn bốt Nhật, trại bảo an, giải phóng các châu lỵ, thị xã, thành phố. Các đơn vị Giải phóng quân lần lượt tiến công các đồn Nhật ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, hỗ trợ nhân dân giành chính quyền tại các tỉnh lỵ.

Hoạt động quân sự của Việt Nam Giải phóng quân cùng các lực lượng vũ trang tại các căn cứ kháng Nhật như chiến khu Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Vần - Hiền Lương, khu du kích Ba Tơ trực tiếp thúc đẩy phong trào cách mạng tại chỗ, đồng thời chi viện, hỗ trợ đấu tranh cho các địa phương trong những ngày Tổng khởi nghĩa.

Trong những ngày bão táp cách mạng, lực lượng vũ trang kết hợp với lực lượng chính trị tiến công địch. Việt Nam Giải phóng quân và hàng vạn chiến sĩ tự vệ đóng vai trò lực lượng xung kích, lực lượng nòng cốt cho toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền. Việt Nam Giải phóng quân đã phát triển nhanh chóng trong quá trình Tổng khởi nghĩa.

Ngày 30/8/1945, Việt Nam Giải phóng quân tiến vào Hà Nội duyệt binh tại Quảng trường Nhà hát Lớn thành phố, biểu thị quyết tâm cùng toàn dân bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việt Nam Giải phóng quân, tự vệ và đồng bào diễu hành biểu dương lực lượng, thể hiện quyết tâm đoàn kết, đem hết tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải giữ vững nền độc lập.

Việt Nam Giải phóng quân đã hoàn thành sứ mệnh chính trị vẻ vang trong Cách mạng Tháng Tám 1945. Giữa tháng 9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị chấn chỉnh, mở rộng và đổi tên Việt Nam Giải phóng quân thành Vệ Quốc đoàn, quân đội của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Đọc nhiều nhất

Tin mới