Vị bác sĩ được Bác Hồ gửi thư riêng sau khi hai con hy sinh

Trong một chiều mưa phùn gió bấc, BS Vũ Đình Tụng nhận bức thư đặc biệt từ Bác Hồ. Đọc xong ông bàng hoàng xúc động.

Năm 1973, trước lúc qua đời, BS Vũ Đình Tụng đã trao lại bức thư cho người con trai cả là ông Vũ Đình Tuân và dặn dò: “Đây là báu vật của gia đình, nhưng cũng là vật quý của dân tộc… lá thư riêng này mang nặng tình cảm của cả núi sông, của lịch sử…”.

bs-tung.jpg
Bác sĩ Vũ Đình Tụng và lá thư đặc biệt của Bác Hồ. Ảnh tư liệu. Nguồn: Khu Di tích Kim Liên.

Ca phẫu thuật nghiệt ngã: bệnh nhân nặng chính là con trai

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động Toàn quốc kháng chiến cuối năm 1946, BS Vũ Đình Tụng gần như làm việc quên ngày đêm để cứu chữa thương binh từ các mặt trận đưa về.

Một đêm tháng Chạp năm 1946, ông liên tiếp thực hiện nhiều ca phẫu thuật cho các chiến sĩ vệ quốc quân bị thương từ nội, ngoại thành Hà Nội chuyển tới. Giữa lúc bệnh viện ngổn ngang thương binh và tiếng súng vẫn dội về từ các tuyến phố, BS Tụng tiếp nhận một ca mổ đặc biệt nguy kịch.

Trong số những thương binh được đưa tới bệnh viện đêm hôm ấy có một chiến sĩ tự vệ Thành Hà Nội còn rất trẻ. Anh bị trúng đạn từ phía sau lưng, “phá ra phía trước, bể bụng ruột gan rối bời lòi ra”, khuôn mặt biến dạng đến mức khó nhận ra.

Trước ca mổ đặc biệt nguy kịch đó, nhiều đồng nghiệp lo ngại BS Vũ Đình Tụng đã quá kiệt sức sau nhiều giờ liên tiếp đứng trên bàn mổ nên khuyên ông tạm nghỉ. Nhưng như có một linh cảm thôi thúc, ông vẫn kiên quyết trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật ấy bằng mọi giá.

Dù bị thương nặng, nhưng chiến trẻ vẫn nhoẻn nụ cười với ông. Nụ cười quen thuộc với chiếc răng khểnh khiến BS Vũ Đình Tụng chết lặng. Ông nhận ra đó chính là con trai út Vũ Đình Thành của mình, chiến sĩ “sao vuông” của Hà Nội. Trong khoảnh khắc ấy, người bác sĩ run rẩy. Nhưng bản lĩnh của người bác sĩ ngoại khoa cầm dao mổ nhắc nhớ ông phải kìm cơn xúc động.

Giữa tình thế cấp bách, ông buộc phải nén đau thương để trực tiếp cứu con mình. Ông nghiến răng, giữ đôi tay bình tĩnh để gắp mảnh đạn cuối cùng ra khỏi cơ thể con trai rồi lảo đảo rời khỏi bàn mổ. Về sau nhớ lại, ông đã chia sẻ, “lúc đó, thần kinh căng lên một cách kinh khủng”.

Điều đau xót, dù người cha đã nỗ lực hết sức cứu con trai, nhưng do vết thương quá nặng, con trai ông đã hy sinh. Trước đó, người con cả của ông là Vũ Đình Tín cũng đã hy sinh sau ngày Tổng khởi nghĩa.

Nỗi đau chồng chất ấy trở thành mất mát không gì bù đắp nổi đối với BS Vũ Đình Tụng, một người cha đã hiến dâng cả hai người con cho cách mạng và kháng chiến.

Sau đêm Noel năm 1946, Bệnh viện Bạch Mai bị pháo kích dữ dội, buộc phải di chuyển ra ngoại thành để tiếp tục cứu chữa thương binh. Trong một chiều mưa phùn gió bấc đầu năm 1947, sau khi vừa hoàn thành ca mổ cho một thương binh, BS Vũ Đình Tụng nhận được một bức thư đặc biệt.

Ông tưởng đó là chỉ thị mới từ Chính phủ, nhưng khi mở ra, đó lại là bức thư chan chứa tình cảm và sự sẻ chia sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi riêng cho ông.

Bức thư đặc biệt của Bác Hồ, báu vật của gia đình và dân tộc

Thư của Bác Hồ viết:

“GỬI BÁC SĨ VŨ ĐÌNH TỤNG

Thưa ngài,

Tôi được báo cáo rằng: con giai của ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món của quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn ngài, và gửi ngài lời chào thân ái và quyết thắng.

Tháng 1 năm 1947

Hồ Chí Minh”.

Khi đó, BS Vũ Đình Tụng là Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh. Bức thư của Bác Hồ được bác sĩ Trần Duy Hưng, khi đó là Thứ trưởng Bộ Nội vụ trực tiếp chuyển tới tận tay ông.

Trong thư, Bác Hồ gọi ông là "Ngài". Đây là một trong số rất ít bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ “ngài” khi xưng hô, thể hiện sự trân trọng và tình cảm đặc biệt dành cho một trí thức, cán bộ của Chính phủ trong những năm đầu cách mạng.

Đọc xong bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, BS Vũ Đình Tụng xúc động và bàng hoàng. Giữa những ngày đầu kháng chiến đầy cam go, khi vận mệnh dân tộc đang đặt nặng lên vai Bác với trăm công nghìn việc phải lo toan, Người vẫn dành sự quan tâm sâu sắc tới nỗi đau riêng của gia đình ông, một gia đình vừa mất đi người con vì Tổ quốc, cũng như biết bao gia đình Việt Nam khác trong khói lửa chiến tranh.

Chính tình cảm lớn lao ấy khiến bác sĩ Vũ Đình Tụng cảm thấy nỗi đau riêng của mình dường như trở nên nhỏ bé trước tình thương bao la và sự hy sinh cao cả của Bác dành cho dân tộc. Ông tự nhủ phải sống, phải làm việc và cống hiến xứng đáng với sự hy sinh của các con, không phụ tấm lòng và niềm tin mà Bác gửi gắm.

Sau đó, bác sĩ tình nguyện theo Chủ tịch Hồ Chí Minh lên chiến khu Việt Bắc, căn cứ địa của cách mạng Việt Nam tiếp tục công tác, cứu chữa thương binh nơi chiến trường. Với ông, mỗi người lính được cứu sống trở về đơn vị lại như tiếp thêm nghị lực để vượt qua mất mát. Trong hình ảnh những thanh niên ra trận ấy, ông luôn thấy thấp thoáng bóng dáng những người con của mình.

Từ một bác sĩ của xã hội cũ, một giáo dân hết lòng vì đức tin, bác sĩ Vũ Đình Tụng đã trở thành người thầy thuốc tận tụy của cách mạng.

Trong suốt những năm tháng kháng chiến gian khổ ở chiến khu Việt Bắc, BS Vũ Đình Tụng đã nhiều lần đọc lại bức thư của Bác Hồ. Có khi ông đọc cùng gia đình, có khi đọc cho đồng nghiệp nghe. Mỗi lần đọc lại, ông vẫn không khỏi nghẹn ngào trước tình cảm sâu nặng và sự sẻ chia của Người. Bức thư không chỉ là nguồn động viên lớn lao mà còn trở thành điểm tựa tinh thần, giúp ông vượt qua đau thương để hoàn thành những trọng trách mà cách mạng giao phó.

Năm 1973, trước lúc qua đời, BS Vũ Đình Tụng đã trao lại bức thư cho người con trai cả là ông Vũ Đình Tuân và dặn dò: “Đây là báu vật của gia đình, nhưng cũng là vật quý của dân tộc… lá thư riêng này mang nặng tình cảm của cả núi sông, của lịch sử…”.

Năm 1985, ông Vũ Đình Tuân đã trao tặng lại bức thư cho Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội để lưu giữ, bảo quản và phục vụ công tác nghiên cứu, học tập cho các thế hệ sau.

Ngày nay, bức thư Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi gia đình bác sĩ Vũ Đình Tụng không chỉ là kỷ vật thiêng liêng của riêng gia đình ông, mà còn trở thành một di sản tinh thần quý giá của dân tộc Việt Nam.

Bức thư ấy là minh chứng sâu sắc cho tình cảm và sự tri ân mà Bác Hồ dành cho thương binh, liệt sĩ và những gia đình đã hy sinh máu xương cho độc lập dân tộc. Đồng thời, đó cũng là lời động viên đầy nhân văn, giúp những gia đình có người thân ngã xuống vơi bớt đau thương, thêm niềm tự hào và nghị lực để tiếp tục sống, cống hiến cho đất nước.

BS Vũ Đình Tụng sinh năm 1895, quê làng Trình Xuyên, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là một trong những tên tuổi lớn của ngành ngoại khoa Việt Nam thời kỳ đầu, được nhiều người kính trọng không chỉ bởi tài năng mà còn bởi y đức và tinh thần tận hiến cho người bệnh.

Cách mạng tháng Tám thành công, nhận lời mời của Hồ Chủ tịch, ông đảm nhiệm nhiều cương vị: Giám đốc Nha Y tế Bắc bộ kiêm Giám đốc Nha Y tế Trung ương; Hội trưởng Hội Hồng thập tự rồi sau đó là Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Việt Nam (1946 - 1973); Bộ trưởng Bộ Thương binh - Cựu binh (1947-1959); Phó Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam; Ủy viên Ủy ban Liên lạc toàn quốc những người công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, yêu hòa bình.

Với những đóng góp, BS Vũ Đình Tụng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác.

GS Tôn Thất Tùng và những ca mổ sinh tử trên chiến trường Điện Biên Phủ

Giữa mưa bom Điện Biên Phủ, GS.BS Tôn Thất Tùng cùng đồng nghiệp cứu sống hàng trăm thương binh trong những lán mổ dã chiến giữa rừng.

Trong hơn một tháng trực tiếp có mặt tại chiến trường Điện Biên Phủ, giữa mưa bom bão đạn và điều kiện thiếu thốn trăm bề, GS.BS Tôn Thất Tùng đã sát cánh cùng các bác sĩ, y sĩ, hộ lý làm việc gần như không ngơi nghỉ để cứu chữa thương binh.

gs-tung.png
GS Tôn Thất Tùng. Ảnh tư liệu.

Tiến sĩ Việt nghiên cứu giúp AI 'biết khi nào có thể sai'

Nhận giải NSF CAREER Award danh giá, TS Hoàng Trọng Nghĩa đang khẳng định vị thế trí tuệ Việt qua các nghiên cứu giúp AI trở nên an toàn và đáng tin cậy hơn.

TS Hoàng Trọng Nghĩa, giảng viên Trường Khoa học và Kỹ thuật máy tính, ĐH Bang Washington (WSU, Mỹ) vừa nhận được Giải thưởng Sự nghiệp Khoa học của Quỹ Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (NSF CAREER Award). Đây là một trong những giải thưởng danh giá nhất dành cho các nhà khoa học trẻ tại Mỹ.

hoang-trong-nghia.jpg
TS Hoàng Trọng Nghĩa, giảng viên Trường Khoa học và Kỹ thuật máy tính, ĐH Bang Washington (WSU, Mỹ).

GS.TS.BS Mai Duy Tôn- người hùng trên chuyến bay đặc biệt

May mắn cho bệnh nhân trên chuyến bay VN19 đã có chuyên gia đột quỵ hàng đầu, GS.TS.BS Mai Duy Tôn kịp thời xử trí, giúp người bệnh an toàn.

Đêm 4/5/2026, trên chuyến bay VN19 hành trình từ Hà Nội đi Paris (Pháp), một tình huống y tế khẩn cấp đã xảy ra khi máy bay đang ở độ cao hành trình. Khoảng 4 giờ sau khi cất cánh, hệ thống loa liên tục phát thông báo kêu gọi hỗ trợ y tế cho một nam hành khách quốc tịch nước ngoài có biểu hiện bất thường.

mai-duy-ton-2.png
GS.TS.BS Mai Duy Tôn (đứng giữa hàng sau) chụp ảnh cùng phi hành đoàn.

Đọc nhiều nhất

Tin mới

Hành trình 51 năm trí thức và khoa học góp phần xây dựng đất nước vững mạnh

Hành trình 51 năm trí thức và khoa học góp phần xây dựng đất nước vững mạnh

Nhân kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, Thống nhất đất nước, PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có bài trả lời phỏng vấn về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.