Chuyển 19 Lê Thánh Tông thành Bảo tàng: Cách bảo tồn di sản tốt nhất

PGS.TS Nguyễn Văn Huy ủng hộ di dời Trường ĐH Dược Hà Nội để xây dựng bảo tàng. Theo ông, đây là cách bảo tồn di sản sống động và nâng tầm tri thức dân tộc.

Đề xuất chuyển khu “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại số 19 Lê Thánh Tông thành Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh trên cơ sở di dời Trường Đại học Dược Hà Nội và Khoa Hóa học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận với nhiều ý kiến trái chiều.

Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho biết, ông ủng hộ đề xuất này. Đây là cách bảo tồn di sản tốt nhất. Tuy nhiên, về tên gọi, ông đề xuất đặt là Bảo tàng Giáo dục Việt Nam để có tính bao quát hơn.

pgsts-nguuyen-van-huy.jpg
PGS.TS Nguyễn Văn Huy, nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam.

Chuyển đổi sang bảo tàng là cơ hội để bảo tồn di sản

Theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, khu vực 19 Lê Thánh Tông không đơn thuần gồm các cơ sở đào tạo riêng lẻ. Nơi đây từng gồm toàn bộ khu đại học cũ của Đại học Đông Dương, về sau mới được chia thành nhiều trường khác nhau.

Không gian này hội tụ các giá trị kiến trúc từ đầu thế kỷ XX, đồng thời mang đậm truyền thống giáo dục đại học qua nhiều thời kỳ.

Tại đây từng tồn tại đồng thời nhiều đơn vị như Trường ĐH Y, trường ĐH Dược, các khoa Hóa, Sinh của Đại học Tổng hợp… cùng Bộ Giáo dục (cũ) và văn phòng, các cơ quan quản lý giáo dục. Bản thân ông Huy cũng có ký ức gia đình gắn bó với khu vực này khi bố ông (nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục– GS Nguyễn Văn Huyên) từng làm việc tại số 21 Lê Thánh Tông trong 20 năm.

Tuy nhiên, hiện nay, khu vực đang xuống cấp, chưa tương xứng với giá trị vốn có. Việc chuyển đổi sang bảo tàng không chỉ là thay đổi công năng mà còn là cơ hội để bảo tồn.

“Thực tế hiện nay công trình đang xuống cấp do nhiều đơn vị khác nhau cùng sở hữu, không được chăm sóc đúng mức. Một công trình kiến trúc đẹp như vậy mà để hư hỏng, cơi nới tùm lum, mở cửa hàng bán thuốc, bán văn phòng phẩm thì rất đáng tiếc. Nếu chuyển thành bảo tàng thì sẽ được trùng tu, quản lý và bảo tồn tốt hơn”, ông Huy nhấn mạnh.

Ngoài ra, theo ông Huy, việc di dời này cũng phù hợp với chủ trương của TP Hà Nội, đó là chuyển các trường đại học ra khỏi nội đô để giảm tải áp lực giao thông cho thành phố.

Nếu làm đúng, không lo biến thành “di sản chết”

Trước những lo ngại việc di dời trường đại học có thể biến một “di sản sống” thành “di sản chết”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho rằng, cách hiểu này chưa đầy đủ. Theo ông, “sống” hay “chết” không nằm ở hình thức tồn tại, mà phụ thuộc hoàn toàn vào cách tổ chức và vận hành.

Một bảo tàng nếu được xây dựng đúng hướng, gắn kết chặt chẽ với đời sống học thuật và xã hội, gắn với các hoạt động công chúng hữu hiệu thì vẫn là một không gian “sống”, thậm chí mang lại nhiều giá trị hơn.

truong-dai-hoc-duoc-ha-noi-1545.png
Trường ĐH Dược Hà Nội. Ảnh: HUP.

Dẫn chứng cụ thể, ông cho rằng có thể phát triển mô hình bảo tàng tương tác, trong đó các giảng đường lịch sử được tái sử dụng như không gian tổ chức dành cho các nhà khoa học, các nhà giáo, các nhà văn hóa thuyết trình các vấn đề khác nhau liên quan đến lịch sử nhà trường; mở các hội thảo khoa học và các hoạt động học thuật thường xuyên. Các phòng thí nghiệm, những hiện vật gốc vẫn giữ lại để là làm nền tảng cho nội dung trưng bày; diễn giải về phương pháp dạy và học một thời kỳ.

“Trách nhiệm của người làm bảo tàng là phải làm cho nó sống động, gắn với đời sống học hành. Như vậy, bảo tàng không thể là không gian “chết” được. Khi đó không gian này không chỉ bảo tồn được ký ức mà còn trở thành nơi tôn vinh lịch sử", ông Huy cho hay.

Về lo ngại việc di dời sẽ làm mất đi "tinh thần nơi chốn", PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho biết, nơi chốn còn nằm ở những ký ức được lưu giữ và cách chúng ta kể lại câu chuyện đó cho thế hệ sau.

“Nơi chốn chính là những bậc cầu thang, những phòng thí nghiệm, những giảng đường… lưu giữ ký ức. Nơi chốn có giá trị đặc biệt là tại chính địa điểm đó, ở việc biết bảo tồn và kể lại lịch sử của nó cho hiện tại và tương lai. Mấy ai nhớ, chính tại sân trường Đại học Tổng hợp, Hồ Chủ tịch đã từng hướng dẫn Chủ tịch Xô viết tối cao Voroshirop, Tổng thống Indonesia Sukarno tới thăm và hiểu về nền đại học Việt Nam”, ông Huy chia sẻ.

Một số ý kiến so sánh cho rằng, các trường đại học lớn trên thế giới vẫn giữ lại cơ sở lịch sử trong trung tâm đô thị dù có mở rộng ra bên ngoài như Đại học Sorbonne, Đại học Paris-Cité (Paris, Cộng hòa Pháp), Đại học Oxford và Đại học Cambridge (Anh), Đại học Harvard (Mỹ)… theo ông Huy sự so sánh này là không phù hợp. Bởi điều kiện không gian và quy mô của chúng ta khác họ, lịch sử giáo dục Việt Nam rất khác họ nên không thể bắt chước.

Về băn khoăn việc di dời sẽ làm mất đi “hồn” của các trường, theo PGS.TS Nguyễn Văn Huy, lịch sử không gắn chặt với địa điểm, mà gắn với chính các cơ sở đào tạo. Như Trường đại học Y Hà Nội trước đây từng đặt tại khu vực này, sau khi chuyển đi về đường Tôn Thất Tùng nhà trường không những vẫn giữ nguyên truyền thống và tiếp tục phát triển quy mô hơn, hiện đại hơn. Khi di dời, toàn bộ câu chuyện, ký ức và giá trị của nhà trường vẫn được mang theo, không hề mất.

Đề xuất thay tên gọi, là Bảo tàng Giáo dục Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Văn Huy cho rằng, tên gọi bảo tàng cũng cần có sự xem xét, cân nhắc. Theo ông Huy, nên gọi là "Bảo tàng Giáo dục Việt Nam" thay vì khu biệt trong cụm từ "thời đại Hồ Chí Minh". Bởi tên gọi này sẽ bao quát được toàn bộ dòng chảy lịch sử giáo dục từ thời phong kiến, chữ Nho, giai đoạn 1900-1945 cho đến nay.

khoa-hoa-2.jpg
Khoa Hóa của Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội) nằm trong đề xuất di dời. Ảnh: Mai Loan.

Giai đoạn 1900–1945 dù không thuộc thời đại Hồ Chí Minh, nhưng lại đóng vai trò như một “đòn bẩy” quan trọng, tạo nền tảng cho sự chuyển đổi từ chữ Nho sang chữ Quốc ngữ, chữ Pháp đồng thời đặt nền móng cho hệ thống giáo dục hiện đại.

Và cũng chính tính liên tục và đặc thù đó đòi hỏi Việt Nam phải có một bảo tàng giáo dục riêng biệt, đủ tầm để phản ánh bản sắc và hành trình phát triển của dân tộc.

“Trong hơn 100 năm, giáo dục đã làm thay đổi toàn bộ xã hội, thay đổi tư duy, cách tiếp cận của người Việt. Từ chỗ 95% dân số mù chữ năm 1945, trải qua các cuộc kháng chiến, đến nay hệ thống trường học đã phủ khắp; tiếng Việt được dạy trong các trường đại học. Vì thế, nền đại học Việt Nam mới phát triển nhanh chóng. Đó là thành tựu rất lớn, cần được kể lại trong một không gian gắn với quần thể Nhà hát Lớn Hà Nội và các câu chuyện văn hóa xung quanh”, ông Huy nói.

Việc thành lập bảo tàng này, theo ông Huy đã nằm trong quy hoạch hệ thống bảo tàng quốc gia từ hàng chục năm trước, nhưng chưa thực hiện được. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, có thể kéo dài từ 10 đến 15 năm.

Những thách thức thì nhiều, nhưng có thể tập trung ở ba yếu tố: Xây dựng nội dung câu chuyện (kịch bản trưng bày), thu thập tư liệu hiện vật và đào tạo đội ngũ vận hành chuyên nghiệp.

“Đây là cơ hội hiếm để hiện thực hóa một bảo tàng giáo dục đúng nghĩa tại Việt Nam, cũng là ấp ủ, mong ước của tôi nhiều năm nay”, PGS.TS Nguyễn Văn Huy chia sẻ.

>>> Mời độc giả xem thêm video Công bố quy hoạch bảo tồn di tích chiến trường Điện Biên Phủ:

(Nguồn: Nhân Dân)

TS.KTS Ngô Doãn Đức: Chuyển ĐH Dược thành bảo tàng là hướng đi 'trúng' bảo tồn di sản

TS.KTS Ngô Doãn Đức cho rằng, di dời Trường ĐH Dược Hà Nội để làm bảo tàng là sự kế thừa hợp lý, giúp giữ phần "hồn" di sản và giảm tải áp lực giao thông.

UBND TP Hà Nội vừa trình HĐND TP xem xét Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm. Trong đó đề xuất chuyển khu “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại 19 Lê Thánh Tông thành không gian Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh, trên cơ sở di dời Trường Đại học Dược Hà Nội và Khoa Hóa học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội). Thông tin này gây chú ý với nhiều ý kiến trái chiều.

Theo tờ trình, Khu bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh dự kiến kết nối với hệ thống các bảo tàng hiện hữu như Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, tạo thành một cụm không gian văn hóa - lịch sử tại khu vực trung tâm.

GS.TS Phạm Tất Dong: Đừng để nghiên cứu khoa học phổ thông biến thành bản copy

GS.TS Phạm Tất Dong chỉ ra 3 câu hỏi then chốt về tính liêm chính đối với Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật dành cho học sinh THCS và THPT.

Những ngày qua, dư luận xôn xao trước những nghi vấn về tính liêm chính tại cuộc thi Nghiên cứu khoa học (NCKH) kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học năm học 2025–2026.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, GS.TS Phạm Tất Dong, nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, những biểu hiện gây tranh cãi vừa qua không phải là hiện tượng cá biệt, mà phản ánh những bất cập mang tính hệ thống trong việc tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học ở bậc phổ thông.

TS Nguyễn Đình Uyên- từ kỹ sư NASA đến công nghệ cho nông dân Việt

Với khát vọng cống hiến, TS Nguyễn Đình Uyên đã rời bỏ vị trí kỹ sư tại NASA để trở về Việt Nam, ứng dụng những giải pháp công nghệ hiện đại vào đồng ruộng.

Trong dịp TP HCM kỷ niệm chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, TS Nguyễn Đình Uyên, giảng viên Khoa Điện tử - Viễn thông, Trường Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia TP HCM là một trong 9 nhà giáo được vinh danh vì những đóng góp lớn lao.

Nhiều năm làm việc tại NASA, Cơ quan Hàng không Vũ trụ Hoa Kỳ, năm 2008 ông đã khiến nhiều người bất ngờ khi quyết định trở về Việt Nam giảng dạy, theo đuổi con đường ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp.

Đọc nhiều nhất

Tin mới

VUSTA khơi dậy khát vọng trí thức trong kỷ nguyên mới

VUSTA khơi dậy khát vọng trí thức trong kỷ nguyên mới

Trải qua 43 năm xây dựng và trưởng thành (1983-2026), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã khẳng định vững chắc vị thế là tổ chức đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ cả nước.