'AI sẽ bỏ lại nhiều người nếu không được phổ cập'

Ông Nguyễn Đức Long khẳng định, trí tuệ nhân tạo không phải mối đe dọa, nhưng nếu không được phổ cập kịp thời, AI có thể khiến nhiều người bị bỏ lại phía sau.

Trò chuyện với Tri thức và Cuộc sống, ông Nguyễn Đức Long, Giám đốc Học viện Công nghệ AIUNI cho rằng, trí tuệ nhân tạo (AI) không thay thế con người nhưng sẽ đào thải những ai chậm thích nghi.

ong-long-2.jpg
Ông Nguyễn Đức Long, Giám đốc Học viện Công nghệ AIUNI.

AI không sinh ra để thay thế con người, mà là để chúng ta làm chủ

PV: Nhiều người lo lắng sẽ bị mất việc làm bởi AI, bị AI thay thế. Ông suy nghĩ gì về điều này?

Ông Nguyễn Đức Long: Tôi cho rằng cách hiểu đúng là AI không thay thế con người, mà đang nâng cấp năng lực con người lên một mức hoàn toàn mới. AI nên được xem là công cụ giúp con người làm việc thông minh hơn, chứ không phải một “nhân sự” độc lập.

Trong thực tế, AI đang làm thay đổi cách con người tổ chức công việc. Thay vì tự mình thực hiện mọi thao tác, con người dần chuyển sang vai trò điều phối, ra quyết định và giám sát các hệ thống thông minh. Khi người lao động làm chủ được công cụ này, họ không bị đào thải mà trở thành những người quản lý công nghệ.

Sự thay thế, nếu có, chỉ xảy ra với những ai từ chối cập nhật và thích nghi. Vấn đề cốt lõi không phải là AI mạnh đến đâu, mà là con người có sẵn sàng học cách làm chủ nó hay không.

PV: Từ trải nghiệm tham gia các hoạt động đào tạo và phổ biến kiến thức AI, theo ông, đâu là rào cản lớn nhất khiến nhiều người vẫn e ngại hoặc hiểu chưa đúng về trí tuệ nhân tạo?

Ông Nguyễn Đức Long: Từ kinh nghiệm thực tế triển khai các hoạt động đào tạo, tôi nhận thấy có ba rào cản lớn nhất khiến cộng đồng còn e ngại hoặc hiểu chưa đúng về trí tuệ nhân tạo.

Thứ nhất, rào cản về "Phương pháp tiếp cận" chứ không phải công nghệ. Nhiều người vẫn lầm tưởng AI là một thứ gì đó rất hàn lâm, chỉ dành cho dân lập trình hay giới tinh hoa công nghệ. Tuy nhiên, quan điểm của tôi là: "AI không khó, rào cản lớn nhất chỉ là chưa được tiếp cận đúng phương pháp".

Thực tế, AI cần được xem như một kỹ năng nền tảng, giống như "xóa mù chữ" thời xưa. Vì vậy, các khóa học nhập môn sẽ như "sách giáo khoa vỡ lòng" của kỷ nguyên số, giúp từ học sinh đến người kinh doanh tự do đều có thể hiểu và dùng ngay được.

Thứ hai, hiểu lầm tai hại về vai trò của AI: Chỉ coi là "Công cụ giải trí" thay vì "Nhân sự tự động hóa". Đa số mọi người hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc dùng AI như một công cụ cá nhân (để thay thế Google Search, viết văn bản, hay tạo ảnh/video giải trí),.

Họ chưa hiểu rằng bản chất AI từ năm 2026 trở đi không chỉ là hỏi-đáp (chatbot) mà là các "AI Agent" (Tác nhân AI), những nhân viên ảo có khả năng tự động hóa quy trình làm việc 24/7, từ marketing, sale đến quản lý kho. Rào cản ở đây là người học chưa chuyển đổi được tư duy từ "chat với AI" sang "lập trình tư duy cho AI" để nó giải quyết trọn vẹn một công việc.

Thứ ba, sự thiếu hụt "Chuẩn mực" khiến người học mất phương hướng. Thị trường đào tạo AI hiện nay đang ở giai đoạn "tranh tối tranh sáng", quá nhiều thông tin nhưng thiếu các tiêu chuẩn đánh giá uy tín. Người dân và doanh nghiệp e ngại vì không biết đâu là thước đo năng lực chuẩn. Chính vì vậy, rào cản lớn là sự thiếu vắng một hệ thống chứng chỉ tiêu chuẩn (giống như IELTS trong tiếng Anh) để "khóa" thị trường lại và tạo dựng niềm tin,.

Để xóa bỏ sự e ngại này, nhiệm vụ đào tạo về AI không chỉ là dạy công cụ, mà là bình dân hóa kiến thức, chuẩn hóa kỹ năng và giúp người Việt hiểu rằng: AI không sinh ra để thay thế con người, mà là để chúng ta làm chủ và không ai bị bỏ lại phía sau.

Người học cần tư duy của một "kiến trúc sư"

PV: Có quan điểm cho rằng, nếu trí tuệ nhân tạo không được phổ cập kịp thời, một bộ phận không nhỏ người lao động sẽ bị bỏ lại phía sau. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?

Ông Nguyễn Đức Long: Tôi cho rằng đây là một cảnh báo hoàn toàn có cơ sở. Trong kỷ nguyên số, nguy cơ lớn nhất không nằm ở bản thân công nghệ, mà là sự đứt gãy về trình độ và khả năng tiếp cận. Khi AI phát triển quá nhanh, những ai không có cơ hội học hỏi, cập nhật hoặc tiếp cận đúng phương pháp sẽ rất dễ bị tụt lại phía sau, không chỉ trong lao động mà cả trong đời sống xã hội.

PV: Theo ông, điều khó nhất khi đào tạo AI cho số đông là vấn đề công nghệ hay là việc hình thành tư duy khoa học và khả năng ứng dụng của người học?

Ông Nguyễn Đức Long: Điều khó nhất khi đào tạo AI cho số đông, theo tôi, hoàn toàn không phải là vấn đề công nghệ, mà nằm ở việc hình thành tư duy giải quyết vấn đề (problem-solving mindset) và sự thiếu hụt kiến thức về quy trình thực tế.

Từ thực tiễn những gì đang triển khai, tôi cho rằng, công nghệ không còn là rào cản lớn. Chúng tôi luôn giữ quan điểm rằng: "AI không khó, rào cản lớn nhất chỉ là chưa được tiếp cận đúng phương pháp". Hiện nay, các nền tảng công nghệ (như Maxflows) đã được tối ưu hóa tốt đến mức người dùng không cần phải biết lập trình phức tạp. Hệ thống có thể tự động hóa và hiểu quy trình, người dùng chỉ cần thiết lập (setup) là có thể chạy ra kết quả,. Việc học sử dụng công cụ thực chất rất nhanh và dễ dàng.

Cái khó, theo tôi, là chuyển đổi tư duy từ "dùng chơi" sang "dùng thật". Đa số mọi người hiện nay mới chỉ dùng AI ở mức độ sơ khai: dùng ChatGPT thay Google Search, tạo ảnh vui vẻ hoặc viết vài đoạn văn bản. Thách thức lớn nhất là đào tạo họ có "tư duy ứng dụng":

Thay vì hỏi AI những câu đơn giản, họ phải biết cách lập trình tư duy cho AI để nó giải quyết trọn vẹn một bài toán cụ thể trong công việc của họ (như kế toán, marketing, logistics),.

Họ phải coi AI không phải là công cụ chat, mà là những "AI Agent" (nhân sự ảo) và biết cách giao việc để chúng tự động hóa quy trình 24/7.

Đặc biệt, "lỗ hổng" điểm khó nhất, theo tôi là kiến thức về quy trình doanh nghiệp, đặc biệt khi đào tạo cho sinh viên. Một sinh viên có thể học công cụ AI rất nhanh, nhưng họ không thể tạo ra một con "AI Agent Marketing" xuất sắc vì họ... chưa hiểu một phòng Marketing vận hành thực tế như thế nào.

Để tự động hóa một doanh nghiệp, người học cần tư duy của một "kiến trúc sư", người biết cách sắp xếp các mảnh ghép (các con AI chuyên biệt) để chúng phối hợp với nhau,.

Trước đây, việc thiết kế luồng công việc này cần những tiến sĩ, chuyên gia lâu năm. Ngày nay, AI đã làm phẳng hóa kỹ thuật, nhưng nó đòi hỏi người dùng phải có tư duy logic để "xếp hình" các quy trình đó.

Tóm lại, không cần đào tạo ra những người thợ gõ code, mà đào tạo ra những người có tư duy làm chủ công cụ. Khó khăn lớn nhất là giúp người học hiểu rằng: AI không phải là đồ trang sức công nghệ, mà là giải pháp kinh tế. Nếu không có tư duy áp dụng vào quy trình thực tế để sinh ra lợi nhuận hoặc tiết kiệm chi phí, thì việc học công nghệ đó là vô nghĩa.

Mỗi người dân, doanh nghiệp có thể “khổng lồ hóa” nhờ AI

PV: Nhìn về dài hạn, ông kỳ vọng xã hội Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào khi trí tuệ nhân tạo trở thành một phần quen thuộc trong học tập, lao động và đời sống?

Ông Nguyễn Đức Long: Tôi hình dung về một xã hội Việt Nam có sự thay đổi căn bản khi AI thấm sâu vào mọi hoạt động. Khi các hệ thống AI ngày càng thông minh và có khả năng đảm nhiệm nhiều khâu vận hành, con người sẽ dần chuyển sang vai trò điều phối và ra quyết định. Một cá nhân hay doanh nghiệp nhỏ có thể tổ chức công việc, thậm chí kinh doanh trên quy mô lớn mà không cần bộ máy nhân sự cồng kềnh, nhờ biết cách khai thác hiệu quả các công cụ AI.

Cùng với đó, AI sẽ dần trở thành một dạng “hạ tầng trí tuệ” quen thuộc trong đời sống, tương tự như điện hay nước. Việc sử dụng AI sẽ chuyển từ tự phát sang có hệ thống, với kỹ năng AI trở thành yêu cầu phổ biến trong học tập và lao động. Điều này giúp thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức và tạo ra sự công bằng hơn trong xã hội.

Ở góc độ lao động, vai trò của con người cũng sẽ thay đổi. Người lao động tương lai không chỉ thực hiện các thao tác kỹ thuật, mà cần tư duy tổ chức, sắp xếp và kết nối các công cụ AI để giải quyết những bài toán thực tiễn. Khi công nghệ trở thành bệ phóng thay vì rào cản, mỗi cá nhân và doanh nghiệp đều có cơ hội “khổng lồ hóa” năng lực của chính mình.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Theo ông Nguyễn Đức Long, trong bối cảnh nhiều đơn vị, trong đó có AIUNI, đang triển khai các chương trình đào tạo giảng viên AI (như chương trình “1.000 Giảng viên GenAI Chuyên nghiệp”), việc xây dựng đội ngũ giảng dạy nòng cốt không chỉ quan trọng mà còn mang tính quyết định đối với sự thành công của chiến lược phổ cập trí tuệ nhân tạo.

Các giảng viên AI không nên được hiểu đơn thuần là “người đứng lớp”, mà cần được định vị như những “hạt nhân tri thức” có khả năng lan tỏa công nghệ một cách bền vững. Trước hết, họ đóng vai trò là “cánh tay nối dài” đưa AI đi sâu vào đời sống. Một tổ chức hay cơ sở đào tạo không thể trực tiếp tiếp cận số đông, mà cần lực lượng nòng cốt tại từng địa phương, từng lĩnh vực để chuyển giao tri thức phù hợp với bối cảnh thực tế.

Bên cạnh đó, đội ngũ này còn là cầu nối chuyển hóa công nghệ thành giải pháp ứng dụng. Thay vì chỉ dừng ở lý thuyết hay thao tác công cụ, giảng viên cần có khả năng hướng dẫn cách xây dựng quy trình, ứng dụng AI vào hoạt động sản xuất – kinh doanh, từ đó tạo ra giá trị kinh tế cụ thể.

Chuyện người Việt đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian tại Mỹ

GS.TS Nguyễn Xuân Vinh là người Việt đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian tại Đại học Colorado, Mỹ, chuyên ngành được NASA bảo trợ trực tiếp

GS.TS sĩ Nguyễn Xuân Vinh (1930–2022) là nhà khoa học không gian người Mỹ gốc Việt. Ông từng là Đại tá, Tư lệnh Không quân Việt Nam Cộng hòa trước khi du học và trở thành một huyền thoại trong lĩnh vực cơ học bay vũ trụ. Ông là người Việt Nam đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ khoa học không gian tại Đại học Colorado, Mỹ năm 1962 - chuyên ngành được NASA bảo trợ trực tiếp.

giao-su-nguyen-xuan-vinh.jpg
GS.TS Nguyễn Xuân Vinh.

Phi hành gia gốc Việt và chuyến bay lịch sử mùa hè 1992

Mùa hè năm 1992, tiến sĩ Eugene Huu-Chau Trinh bay trên tàu con thoi Columbia (STS-50), trở thành người Việt thứ hai chinh phục không gian.

Ngày 25/6/1992, Tiến sĩ Eugene Huu-Chau Trinh (tên tiếng Việt là Trịnh Hữu Châu) chính thức ghi tên mình vào hàng ngũ những con người chinh phục vũ trụ khi tham gia chuyến bay STS-50 trên tàu con thoi Space Shuttle Columbia của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA).

Chuyến bay lịch sử, người Việt thứ 2 chinh phục vũ trụ

Chuyện về 'người mẹ' đặc biệt sau những tấm huy chương Olympic quốc tế

Câu chuyện nuôi học trò nghèo đoạt giải Olympic Sinh học Quốc tế của cô Vũ Thị Hạnh, Trường THPT Chuyên Hùng Vương (Phú Thọ) đã gây xúc động, truyền cảm hứng.

Tại Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ XI, ngành giáo dục có nhiều gương mặt tiêu biểu được tôn vinh, trong đó có cô Vũ Thị Hạnh, Tổ trưởng tổ Sinh học, Trường THPT Chuyên Hùng Vương (Phú Thọ). Gắn bó hơn 30 năm với giáo dục mũi nhọn, cô Hạnh được biết đến qua những thành tích nổi bật trong bồi dưỡng học sinh giỏi Sinh học quốc gia, quốc tế, đặc biệt là câu chuyện "cổ tích giữa đời thường" với học trò Nguyễn Thị Thu Nga.

vu-thi-hanh.jpg
Cô Vũ Thị Hạnh dự Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ XI. Ảnh: NVCC.

Đọc nhiều nhất

Tin mới