Vào hồi 17:45 ngày 28 tháng 01 năm 2026, Nhà văn, nhà thơ, họa sĩ Mường Mán đã trút hơi thở cuối cùng, hưởng thọ 79 tuổi. Sự ra đi của nhà văn, nhà thơ Mường Mán để lại khoảng lặng trong đời sống văn chương. Ông là người viết không ồn ào, nhưng tác phẩm bền bỉ hiện diện qua nhiều thế hệ bạn đọc, từ tuổi học trò đến những phận người nhiều trải nghiệm.
Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó / Về đi thôi o nớ chiều rồi
Nhà văn Mường Mán tên thật là Trần Văn Quảng, sinh năm 1947 tại làng Chuồn (làng An Truyền), huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế (cũ). Trước khi được biết đến rộng rãi với vai trò nhà văn, nhà thơ, ông từng là phóng viên chiến trường tại miền Nam. Những năm tháng ấy để lại dấu ấn sâu đậm trong cảm quan sáng tác, giúp ông hình thành một giọng điệu vừa giàu trải nghiệm, vừa lắng sâu nhân tình.
Từ rất sớm, Mường Mán đã bộc lộ năng khiếu thi ca. Năm 17 tuổi, ông đã có những bài thơ được đánh giá cao và được bạn đọc chú ý. Thơ ông không cầu kỳ về kỹ thuật mà giàu cảm xúc, mang vẻ đẹp trong trẻo, giàu nhạc tính, dễ chạm đến tâm trạng người đọc.
Một số câu thơ của ông từng để lại dấu ấn sâu đậm, được truyền tay qua nhiều thế hệ:
“… Tay nhớ ai mà tay bối rối
Áo thương ai lồng lộng đôi tà
Đường về nhà qua mấy ngõ hoa
Chớ có liếc mắt nhìn ong bướm”.
Hay:
“Rằng từ khoác bụi trên vai
Năm chưa đủ rộng tháng dài đã trôi
Người đi tìm lá ngậm ngùi
Ta về đốt lửa hong lời gió mưa”.
Bút danh Mường Mán lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Văn năm 1965 với hai bài thơ ngắn Thiếu thời và Mùa hạ. Đầu thập niên 1970, ông tiếp tục ghi dấu với hai truyện dài đầu tay Lá tương tư và Một chút mưa thơm, đăng nhiều kỳ trên tuần báo Tuổi Ngọc – tờ báo gắn với ký ức tuổi học trò của nhiều thế hệ.
Theo nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nói về cái bút danh gây tò mò cho nhiều người này, Mường từng chia sẻ: “Hồi mới viết, tụi bạn đứa nào cũng chọn bút danh mỹ miều, nên tui đặt “Mường Mán” nghịch đời chơi!”.
Trước năm 1975, Mường Mán đã có khoảng 100 truyện ngắn và hai truyện dài viết cho tuổi học trò. Tên truyện thường giàu chất thơ, gợi cảm, phản ánh đúng tinh thần nhân văn, trong trẻo của một cây bút hướng về đời sống tuổi mới lớn.
Sau biến cố lịch sử, ông lưu lạc vào miền Tây Nam Bộ, trải qua những năm tháng mưu sinh chật vật. Một nhà văn từng có tác phẩm được yêu mến vẫn phải cầm gậy lùa vịt mưu sinh. Chính từ hoàn cảnh ấy, ông viết nên bài thơ Chăn vịt ở phương Nam, sau này được nhạc sĩ Châu Đình An phổ nhạc và Khánh Ly song ca, như một minh chứng cho sức sống của thi ca giữa đời sống gian khó.
Phải đến thời kỳ Đổi mới, sau năm 1986, nhà văn Mường Mán mới thực sự trở lại mạnh mẽ với văn chương. Tiểu thuyết Hồng Hạ do NXB Mũi Cà Mau xuất bản với số lượng 35.000 bản, một con số kỷ lục vào thời điểm đó đánh dấu sự tái xuất đầy ấn tượng của ông.
Không chỉ dừng ở văn xuôi, nhà văn Mường Mán còn tham gia viết kịch bản phim, phần lớn được chuyển thể từ chính tác phẩm của mình, như Người trong cuộc (1987), Gió qua miền tối sáng (viết chung, 30 tập, 1995), Chuyện ngã bảy (1997), Trăng không mùa (1998), Duyên phận (16 tập, 2003). Những tác phẩm này cho thấy khả năng thích ứng của ông với đời sống nghệ thuật đương đại.
Năm 1995, ông mới xuất bản tập thơ đầu tay Vọng, tiếp đó là tập Dịu khúc ra mắt năm 2008 đúng dịp kỷ niệm 45 năm cầm bút và 30 năm ngày cưới. Tập thơ lục bát này, theo lời nhà văn Ngụy Ngữ trong phần tựa, ghi lại “một phần của tuổi thanh xuân cần được nâng niu giữ gìn”.
Dịu khúc gồm gần 100 bài thơ lục bát, trong đó có bài thơ nổi tiếng Qua mấy ngõ hoa, từng được nhiều bạn trẻ dùng làm “tặng vật tỏ tình”, nói hộ nỗi lòng của mình:
“Chim vỗ cánh nắng phai rồi đó
Về đi thôi o nớ chiều rồi
Ngó làm chi mây trắng xa xôi
Mắt buồn quá chao ơi là tội…”.
Ngoài dấu ấn trong văn chương, nhà văn Mường Mán còn để lại những đóng góp đáng kể ở lĩnh vực hội họa. Nghỉ hưu năm 2007, ông chuyển từ cầm bút sang cầm cọ, theo đuổi niềm đam mê hội họa đã nhen nhóm từ những năm học Trường Quốc học Huế. Hơn một thập niên sáng tác, ông thực hiện khoảng 100 tác phẩm và tổ chức triển lãm cá nhân Tuần trăng mê hoặc tại TP.HCM năm 2019.
Những trang văn đầy ắp ân tình
Đánh giá về nhà văn Mường Mán, trên trang Hội Nhà văn Việt Nam, nhà văn Nguyễn Khắc Phê nhận định: “Tôi không ngần ngại gọi Mường Mán là một cây truyện ngắn có hạng; truyện của anh có nhiều khía cạnh thú vị xứng đáng là đề tài luận văn cao học tại các trường đại học”.
Theo nhà văn Nguyễn Khắc Phê, văn chương Mường Mán đầy ắp nhân tình, từ tình yêu quê hương, trai gái, vợ con, bạn bè, cho đến những mối tình thoáng qua, những kẻ bạc tình. Bao trùm lên tất cả là tình yêu thương của tác giả đối với những phận người bất hạnh, những số phận trớ trêu trong đời sống.
Tin ông qua đời để lại nhiều tiếc thương trong giới văn chương, nghệ thuật. Với nhiều bạn văn, điều đáng trân trọng nhất ở Mường Mán chính là tinh thần lao động chữ nghĩa bền bỉ, không đứt gãy trước những biến động của thời cuộc và đời sống cá nhân.
Về sau, nhà văn, nhà thơ Mường Mán cùng vợ mở quán Ruốc, mang hương vị Huế vào đời sống thường nhật. Quán nhỏ ấy trở thành nơi gặp gỡ, sẻ chia của bạn bè văn chương. Dù trải qua nhiều trăn trở, ông vẫn giữ được mạch sáng tác liền lạc, đồng thời tiếp tục tham gia làm phim, hòa nhập với nhịp sống mới và để lại dấu ấn riêng.
Theo nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, nhà thơ Mường Mán là tác giả của nhiều tác phẩm được đông đảo bạn đọc biết đến như Lá tương tư, Thương nhớ người dưng, Bâng khuâng như bướm, Khóc nữa đi sớm mai, Hồng Hạ, Kiều Dũng, Ngon hơn trái cấm, Tuần trăng mê hoặc, Mùa thu tóc rối, Bèo nước long đong, Muối trăm năm, Cạn chén tình…
Tiểu thuyết "Muối trăm năm" của ông được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2001, đưa Mường Mán trở thành một cái tên có dấu ấn rõ nét trong đời sống văn chương đương đại.
“Nghĩ về ông, tôi nghĩ đến sự khiêm nhường sống của một con người, sự lặng lẽ sáng tạo của một nhà văn và sự ấm áp của một tâm hồn”., nhà văn Nguyễn Quang Thiều chia sẻ.
Theo thông tin từ gia đình nhà văn Mường Mán, linh cữu ông được quàn tại số 78/21/14 đường Nguyễn Văn Khối, phường Thông Tây Hội, TP.HCM.
Lễ nhập quan diễn ra lúc 6 giờ ngày 29/1 (nhằm ngày 11 tháng Chạp năm Ất Tỵ), lễ động quan tổ chức lúc 6 giờ ngày 31/1 (nhằm ngày 13 tháng Chạp năm Ất Tỵ).
Sau đó, linh cữu được hỏa táng tại Nghĩa trang Bình Hưng Hòa (TP.HCM).