GS Trần Thị Việt Nga: Được làm điều mình đam mê luôn mang lại năng lượng tích cực

GS.TS Trần Thị Việt Nga, người vừa được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025, chia sẻ, khi được làm điều mình đam mê, công việc luôn mang lại năng lượng tích cực và niềm vui.

GS.TS Trần Thị Việt Nga, Giảng viên cao cấp Khoa Kỹ thuật Môi trường, Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt – Nhật (Trường Đại học Xây dựng Hà Nội) vừa được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho những đóng góp nổi bật trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường và quản lý tài nguyên nước.

gsts-tran-thi-viet-nga3.jpg
Thủ tướng Phạm Minh Chính trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho cá nhân Giáo sư-Tiến sĩ Trần Thị Việt Nga. Ảnh: TTXVN.

Mở hướng tái tạo tài nguyên từ nước thải

Một trong những dấu ấn tiêu biểu gắn với tên tuổi của GS.TS Trần Thị Việt Nga là việc phát triển công nghệ màng lọc trong điều kiện kỵ khí (AnMBR) ứng dụng trong xử lý nước thải. Đây là công nghệ sinh học hiện đại, được đánh giá cao nhờ khả năng xử lý hiệu quả các hợp chất hữu cơ trong nước thải đồng thời mang lại lợi ích về năng lượng.

Khác với nhiều phương pháp truyền thống, hệ thống AnMBR cho phép thu hồi các sản phẩm có giá trị từ dòng nước thải. Trong quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ dưới điều kiện kỵ khí, khí sinh học được tạo ra và có thể sử dụng như một nguồn năng lượng tái tạo để phục vụ nhu cầu cấp nhiệt hoặc phát điện.

tran-thi-viet-nga.jpg
Những nghiên cứu của GS Trần Thị Việt Nga có ý nghĩa rất lớn với môi trường. Ảnh: Trường ĐH Xây dựng Hà Nội.

Theo GS.TS Trần Thị Việt Nga, hướng tiếp cận này góp phần thay đổi cách nhìn nhận trước đây về các công trình xử lý nước thải. Trước kia, hệ thống xử lý nước thải thường chỉ được coi là công trình ‘xử lý ô nhiễm’. Với cách tiếp cận mới, mục tiêu được nâng lên thành mô hình ‘công trình tái tạo – thu hồi tài nguyên’, từ đó mang lại nhiều giá trị hơn cho xã hội và môi trường.

Công nghệ đã được triển khai thử nghiệm tại một số trạm xử lý nước thải sinh hoạt, cơ sở chế biến gia súc và trang trại chăn nuôi lợn, qua đó chứng minh tính khả thi cũng như năng lực làm chủ công nghệ của nhóm nghiên cứu. Trong thời gian tới, GS.TS Trần Thị Việt Nga cùng cộng sự tiếp tục hoàn thiện công nghệ theo hướng nội địa hóa sản xuất, nhằm giảm chi phí và tạo điều kiện mở rộng ứng dụng trong thực tiễn xử lý nước thải.

Một dấu ấn đáng chú ý của GS.TS Trần Thị Việt Nga là Đề án phục hồi hệ thống sông nội đô Hà Nội, bao gồm các sông Tô Lịch, Lừ, Sét và Kim Ngưu, do UBND TP Hà Nội đặt hàng thực hiện trong giai đoạn 2022–2023.

Trong khuôn khổ đề án này, nhóm nghiên cứu của bà đã áp dụng cách tiếp cận tổng hợp và hệ thống để phân tích các vấn đề của hệ thống sông nội đô. Cụ thể, các yếu tố như nước mưa, nước thải sau xử lý và dòng chảy tự nhiên được xem xét đồng thời nhằm xây dựng giải pháp duy trì dòng chảy sinh thái, cải thiện chất lượng nước, đồng thời góp phần kiểm soát tình trạng úng ngập đô thị.

Từ kết quả nghiên cứu, đề án đã đề xuất nhiều gói giải pháp công nghệ và quản lý nước phù hợp với từng giai đoạn quy hoạch phát triển của thành phố Hà Nội. Công trình này đã được trao Giải Xuất sắc – Giải thưởng Quy hoạch đô thị quốc gia năm 2023 ở hạng mục Chất lượng môi trường. Đến tháng 7/2025, đề án chính thức được UBND TP Hà Nội phê duyệt.

Khi sự "đa nhiệm" trở thành sức mạnh của phụ nữ làm khoa học

GS.TS Trần Thị Việt Nga, sinh năm 1974, quê quán Thanh Chương - Nghệ An trong một gia đình có truyền thống làm khoa học. Cha và anh trai chính là những người thầy đầu tiên thắp lên trong bà ngọn lửa tri thức.

tran-thi-viet-nga-2.jpg
GS.TS Trần Thị Việt Nga cho rằng, phụ nữ cũng có những lợi thế riêng khi làm khoa học. Ảnh: Trường ĐH Xây dựng.

Theo GS.TS Trần Thị Việt Nga, con đường nghiên cứu khoa học đối với phụ nữ không ít áp lực. Những thách thức này càng rõ rệt hơn khi họ đồng thời đảm nhiệm vai trò quản lý hoặc phải cân bằng giữa nhiều trách nhiệm khác nhau trong công việc và cuộc sống.

Tuy vậy, nữ giáo sư cho rằng phụ nữ cũng sở hữu những lợi thế riêng khi theo đuổi con đường khoa học. Khả năng làm việc đa nhiệm là một trong những điểm mạnh đáng kể. Điều đó đòi hỏi người làm khoa học nữ phải biết quản lý thời gian hiệu quả, kiên nhẫn và có kế hoạch làm việc rõ ràng để xử lý nhiều nhiệm vụ cùng lúc. Bên cạnh đó, những phẩm chất như sự tỉ mỉ, bền bỉ và tinh thần sẻ chia cũng là những yếu tố giúp phụ nữ phát huy thế mạnh trong hoạt động nghiên cứu.

Chia sẻ về hành trình khoa học của mình, GS.TS Trần Thị Việt Nga cho biết nghiên cứu luôn song hành với cả thành công lẫn thất bại. Những khó khăn, thử thách là điều không thể tránh khỏi và được xem như một phần tất yếu của quá trình tìm tòi tri thức.

Theo bà, khoa học chưa bao giờ là công việc của riêng một cá nhân. Mỗi kết quả nghiên cứu đều là thành quả của sự đóng góp, nỗ lực và cộng hưởng trí tuệ của cả tập thể. Vì vậy, môi trường nghiên cứu cần tạo điều kiện để mỗi thành viên phát huy tối đa thế mạnh của mình.

Nữ giáo sư cũng cho rằng, phụ nữ khi theo đuổi nghiên cứu khoa học thường không đặt nặng việc đạt được những thành tựu lớn lao. Điều họ hướng đến trước hết là hoàn thành tốt mục tiêu nghiên cứu, tạo ra những kết quả có giá trị. Khi các kết quả ấy được ứng dụng vào thực tiễn và mang lại lợi ích cho cộng đồng, ý nghĩa của công việc nghiên cứu càng trở nên rõ ràng hơn.

“Cho đến nay, tôi luôn cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì được làm công việc nghiên cứu khoa học mà mình yêu thích. Khi được làm điều mình đam mê, công việc luôn mang lại năng lượng tích cực và niềm vui, vì thế tôi không cảm thấy đó là sự vất vả”, GS.TS Trần Thị Việt Nga chia sẻ.

GS.TS Trần Thị Việt Nga chia sẻ, việc được trao Giải thưởng Kovalevskaia – giải thưởng nhằm tôn vinh những đóng góp của nữ trí thức Việt Nam – là niềm vinh dự và hạnh phúc lớn đối với bà.

Gửi lời khuyên tới những bạn trẻ muốn theo đuổi con đường khoa học, GS.TS Trần Thị Việt Nga cho rằng điều quan trọng trước hết là đam mê và nền tảng kiến thức cơ bản vững chắc, cùng khả năng thích ứng với yêu cầu của công việc nghiên cứu.

Theo bà, nghiên cứu khoa học không nhất thiết phải bắt đầu từ những ý tưởng lớn lao, mà cần nắm vững quy trình nghiên cứu một cách bài bản: từ xác định vấn đề, lựa chọn phương pháp, đến xử lý số liệu và đánh giá kết quả khách quan.

Những kiến thức nền tảng vững chắc không chỉ phục vụ nghiên cứu mà còn giúp hình thành tư duy logic, khả năng phân tích và giải quyết vấn đề hiệu quả trong nhiều lĩnh vực nghề nghiệp khác nhau.

Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy, GS.TS Trần Thị Việt Nga đã chủ trì 12 đề tài khoa học và công nghệ ở nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp tỉnh/thành phố và các nhiệm vụ hợp tác quốc tế. Bên cạnh đó, nữ giáo sư đã công bố 82 bài báo khoa học, trong đó có 40 bài đăng trên các tạp chí quốc tế thuộc danh mục SCIE/SCOPUS, đồng thời là đồng tác giả của một bằng sáng chế quốc gia năm 2025.

>>> Mời độc giả xem thêm video Phụ nữ Việt Nam đang ngày càng phát triển về mọi mặt:

(Nguồn: Chinhphu.vn)

GS.TS Nguyễn Thị Lan: Kết nối nguồn lực khoa học, đột phá nông nghiệp

GS.TS Nguyễn Thị Lan cam kết chương trình hành động sẽ tập trung vào nông nghiệp, nông thôn và người nông dân, gắn với khoa học-công nghệ.

GS.TS.NGƯT Nguyễn Thị Lan, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam là ứng cử viên đại biểu Quốc hội tại đơn vị bầu cử số 8 gồm 12 xã phía Nam thành phố gồm: Vân Đình, Phú Xuyên, Phượng Dực, Chuyên Mỹ, Đại Xuyên, Mỹ Đức, Hồng Sơn, Phúc Sơn, Hương Sơn, Ứng Thiên, Ứng Hòa và Hòa Xá, nơi có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, làng nghề và du lịch sinh thái.

nguyen-thi-lan.jpg
GS.TS Nguyễn Thị Lan tại Hội nghị tiếp xúc cử tri. Ảnh: NVCC.

Cơ chế đột phá đào tạo nhân lực toán học trình độ quốc tế

Theo GS.TSKH. Vũ Hoàng Linh, Việt Nam không thiếu tài năng Toán học, song cần cơ chế, môi trường nghiên cứu tốt để đào tạo đội ngũ khoa học trình độ cao.

Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, GS.TSKH Vũ Hoàng Linh, Bí thư Đảng ủy Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội); Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam (Hội thành viên thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) khẳng định, Việt Nam không thiếu những tài năng Toán học. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất ở việc tạo ra các điều kiện cần thiết cho học tập và nghiên cứu.

Việt Nam không thiếu những tài năng toán học…

Ba nhà khoa học nữ nổi tiếng có ảnh hưởng lớn trên thế giới

Trong lịch sử, một số nhà khoa học nữ dù ít được biết đến nhưng những nghiên cứu của họ đã có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người dân trên thế giới.

Theo thống kê của tổ chức UNESCO vào năm 2020, chỉ có 30% các nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới là phụ nữ. Số liệu này cho thấy nữ giới chiếm tỷ trọng thấp trong nghiên cứu khoa học. Họ gặp nhiều khó khăn, thử thách để theo đuổi đam mê và gặt hái được thành tựu lớn cũng như được công nhận bằng những giải thưởng danh giá, uy tín.

Nhà khoa học xuất sắc trong lĩnh vực di truyền học tế bào

Đọc nhiều nhất

Tin mới