Vị tướng, bác sĩ huyền thoại cứu nhạc sĩ Văn Cao giữa lằn ranh sinh tử

GS.TSKH, Anh hùng LLVTND Lê Thế Trung đã hai lần trực tiếp cứu chữa cho nhạc sĩ Văn Cao trong những thời khắc sinh tử.

GS.TSKH, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Lê Thế Trung được biết đến là người đặt nền móng cho chuyên ngành bỏng và y học thảm họa tại Việt Nam. Trong tâm trí bệnh nhân, học trò và đồng nghiệp, ông gắn liền với hình ảnh một người thầy thuốc, thầy giáo, nhà khoa học tận tâm, hết lòng phục vụ bộ đội và nhân dân, thấm nhuần tinh thần “lương y như từ mẫu”.

le-the-trung.jpg
GS.TSKH. Lê Thế Trung. Ảnh tư liệu.

Hai lần cứu chữa nhạc sĩ Văn Cao

Trong cuộc đời làm nghề của GS.TSKH Lê Thế Trung, ông đã trực tiếp cứu sống hàng nghìn thương binh, bệnh binh và người dân. Trong số đó, trường hợp nhạc sĩ Văn Cao được nhiều thế hệ nhắc lại như một dấu ấn đặc biệt, không chỉ bởi tên tuổi của người bệnh mà còn bởi hoàn cảnh và tính chất sinh tử của hai lần điều trị.

Theo tư liệu được kể lại, cuối năm 1958, một đoàn văn nghệ sĩ gồm những tên tuổi lớn như nhà văn Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và nhạc sĩ Văn Cao lên Tây Bắc đi thực tế, tìm hiểu tình hình xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội. Thời điểm đó, Tây Bắc còn rất hoang sơ, dân cư thưa thớt, chưa có điện lưới. Từ Hà Nội lên Điện Biên phải mất bốn ngày đường ôtô vượt qua những con đèo cao, dốc hiểm trở trên Quốc lộ 6. Chuyến đi vốn đã gian nan, lại thêm biến cố bất ngờ xảy ra.

Khi đoàn tới thị trấn Hát Lót, nhạc sĩ Văn Cao đột ngột bị bục dạ dày. Trong điều kiện y tế vô cùng thiếu thốn, ông được chuyển gấp tới Thuận Châu, nơi có phòng mổ của Bệnh viện Khu tự trị vừa mới được khánh thành. Lúc đó, thể trạng của nhạc sĩ rất yếu, không thể nói được. Những người bạn đồng hành như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi lo lắng, đứng ngồi không yên trước tình trạng nguy kịch của ông.

nhac-si-van-cao.jpg
Nhạc sĩ Văn Cao. Ảnh QĐND.

Ca mổ cấp cứu được giao cho bác sĩ quân y Lê Thế Trung chủ trì. Không có điện, ê-kíp phải thắp đèn măng-sông để chiếu sáng phòng mổ; một y tá cầm đèn pin rọi trực tiếp vào ổ bụng để các bác sĩ có thể thao tác. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, bằng kinh nghiệm, bản lĩnh và tay nghề vững vàng, bác sĩ Lê Thế Trung đã đưa nhạc sĩ Văn Cao thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Sau ca mổ, Văn Cao hồi phục và tiếp tục sống, sáng tác thêm gần 40 năm nữa.

Nhiều năm sau, khi GS.TSKH Lê Thế Trung giữ cương vị Giám đốc Quân y viện 103, nhạc sĩ Văn Cao lại một lần nữa được cứu sống bởi chính người thầy thuốc ấy. Nhớ lại kỷ niệm này, GS Lê Thế Trung từng kể: một ngày, ông nhận được lá thư viết tay của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi các thầy thuốc Viện 103, nhờ chữa giúp nhạc sĩ Văn Cao đang mắc bệnh lệch cột sống, đau đớn dữ dội, không thể đứng được.

Trước đó, Văn Cao đã điều trị tại một bệnh viện lớn nhưng bệnh không thuyên giảm. Cột sống bị hẹp một đốt, tình trạng được đánh giá rất nặng, gần như không còn hy vọng. Biết chuyện, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm và gợi ý chuyển nhạc sĩ về Viện 103 để điều trị. Văn Cao xúc động, vừa khóc vừa hỏi: “Nhưng Viện 103 chữa cho ai, liệu có chữa cho tôi không?”.

Sau khi nhập viện khoảng nửa tháng, nhạc sĩ Văn Cao bình phục gần như hoàn toàn, có thể đứng dậy và đi lại được. Các thầy thuốc Viện 103 đã điều trị theo phương châm kết hợp Đông – Tây y, không phẫu thuật. Khi xuất viện, để bày tỏ lòng tri ân, nhạc sĩ Văn Cao đã tổ chức một đêm nhạc ấm cúng phục vụ các thầy thuốc và bệnh nhân, như một lời cảm ơn chân thành tới những người đã cứu mình qua cơn hoạn nạn.

Vị tướng, bác sĩ huyền thoại suốt đời phụng sự Nhân dân

GS.TSKH Lê Thế Trung sinh năm 1928 tại xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, nay là phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Ông xuất thân từ một gia đình công nhân ngành in. Trong bối cảnh đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, chàng trai trẻ yêu nước Lê Thế Trung sớm gia nhập Vệ quốc đoàn, theo học khóa 1 y tá Vệ quốc đoàn, sau đó tiếp tục học lớp y sĩ khóa 1 của Trường Quân y sĩ Việt Nam tại Liên khu Việt Bắc.

le-the-trung-2.jpg
Vị tướng, BS huyền thoại trọn đời phụng sự Nhân dân. Ảnh tư liệu.

Trên mặt trận Điện Biên Phủ, điều kiện vật chất và trang thiết bị y tế vô cùng thiếu thốn. Ông cùng đồng đội phải sử dụng những vật dụng thô sơ như thanh tre, gáo dừa, mảnh bầu khô để làm dụng cụ cầm máu. Nước đun sôi được tự pha chế thành dịch truyền. Ánh sáng phục vụ phẫu thuật cho thương binh chỉ là những chiếc đèn pin, đèn dầu. Trong hoàn cảnh ấy, người thầy thuốc quân y trẻ tuổi trực tiếp chứng kiến những hy sinh to lớn của bộ đội, thương binh và bệnh binh.

Chính từ thực tiễn chiến trường khốc liệt, bác sĩ Lê Thế Trung luôn trăn trở làm thế nào để góp phần giúp bộ đội có sức khỏe tốt nhất, thương binh, bệnh binh được điều trị nhanh khỏi nhất và giảm thấp nhất tỷ lệ tử vong. Những trăn trở đó theo ông suốt chặng đường nghề nghiệp sau này.

Giai đoạn 1965–1966, ông trực tiếp vào chiến trường Liên khu 5 để kiểm tra công tác quân y và tham gia cứu chữa thương binh. Năm 1968, ông làm Trưởng đoàn chuyên viên vào chiến trường Khe Sanh, nghiên cứu về ngoại khoa trong chiến tranh. Từ thực tiễn đó, ông hoàn thành công trình “Nghiên cứu về tổn thương do sóng nổ, xử trí ngoại khoa và bỏng chấn thương, ghép da tự thân tại chiến trường”.

Song song với công tác cứu chữa thương binh, bệnh binh, ông dành nhiều tâm sức cho nghiên cứu khoa học, đạt nhiều thành công trong lĩnh vực ngoại khoa dã chiến và xử trí vết thương chiến tranh. Năm 1972, khi được cử sang Liên Xô làm luận án phó tiến sĩ y học, bác sĩ Lê Thế Trung lựa chọn đề tài “Nhiễm khuẩn mủ xanh trong bỏng”, tiếp tục khẳng định hướng đi chuyên sâu về ngành bỏng.

Sau khi trở về nước, trong bối cảnh đất nước hoàn toàn giải phóng, với khát vọng khoa học mãnh liệt, ông cùng các đồng nghiệp xây dựng Trường Đại học Quân y (nay là Học viện Quân y) và bệnh viện thực hành là Bệnh viện 103. Đặc biệt, ông dành trọn tâm huyết để xây dựng và phát triển chuyên ngành bỏng – lĩnh vực gắn bó với ông suốt cả cuộc đời.

Cùng với các cộng sự, GS.TSKH Lê Thế Trung đã nghiên cứu, tìm ra nhiều loại cây thuốc điều trị bỏng hiệu quả. Tiêu biểu là thuốc bỏng Maduxin chiết xuất từ cây sến mật, thuốc bỏng B76 điều chế từ vỏ cây sơn trà, hay kỹ thuật dùng da ếch tiệt trùng để phủ vết thương bỏng. Dưới sự dẫn dắt của ông, Khoa Bỏng của Viện Quân y 103 trở thành tuyến cuối chuyên ngành bỏng của toàn quân và toàn quốc. Không dừng lại ở đó, ông cùng các cộng sự xây dựng dự án trình Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế, đề xuất nâng cấp Khoa Bỏng thành Viện Bỏng quốc gia.

Không chỉ là chuyên gia đầu ngành về bỏng, GS.TSKH Lê Thế Trung còn để lại dấu ấn sâu đậm ở nhiều chuyên ngành y học khác. Ông là người đứng đầu chỉ đạo và tổ chức thực hiện ca ghép thận đầu tiên thành công tại Việt Nam vào tháng 6/1992. Tháng 1/2004, ông tiếp tục giữ vai trò đồng Trưởng ban Chỉ đạo ca ghép gan trên người đầu tiên ở Việt Nam. Bên cạnh đó, ông cũng là người khởi xướng và đặt nền móng cho ngành Y học thảm họa tại Việt Nam.

GS.TSKH Lê Thế Trung qua đời ngày 10/6/2018 tại Bệnh viện Quân y 103, hưởng thọ 90 tuổi. Với những cống hiến, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi mang quân hàm Trung tá, được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2005 cho cụm công trình ghép tạng, cùng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý khác.

Luận án tiến sĩ đặc biệt của nữ giáo sư Toán đầu tiên Việt Nam

Năm 1975, GS Toán đầu tiên của Việt Nam đã bảo vệ luận án tiến sĩ đặc biệt, gây chấn động giới khoa học Pháp lúc bấy giờ.

GS Hoàng Xuân Sính sinh năm 1933 tại làng Cót (Từ Liêm, Hà Nội) trong một gia đình trí thức có truyền thống hiếu học. Ngay từ thuở nhỏ, tâm hồn của cô bé Hoàng Xuân Sính đã được bồi đắp bởi tư tưởng của những bậc đại trí thức như GS Vũ Đình Hòe hay GS Hoàng Xuân Hãn. Năm 1951, sau khi tốt nghiệp tú tài tại trường Chu Văn An, bà sang Pháp định cư và tiếp tục theo đuổi con đường học vấn.

Học toán để trở về: Lời hứa của người con gái làng Cót

Nipah có thể thành đại dịch? Chuyên gia phân tích nguy cơ

Dù nguy cơ hiện ở mức thấp, Nipah vẫn có khả năng trở thành đại dịch nếu virus xuất hiện các biến đổi di truyền giúp thích nghi tốt hơn với cơ thể người.

Ông Nguyễn Hồng Vũ, Tiến sĩ Sinh học phân tử trong y học, đang làm việc tại Mỹ cho biết, Virus 𝐍𝐢𝐩𝐚𝐡 được phát hiện lần đầu trong giai đoạn 1998–1999 tại làng Sungai Nipah, bang Negeri Sembilan, Malaysia. Vì vậy, các nhà khoa học đặt tên virus theo nơi phát hiện đầu tiên: Nipah virus (NiV). Nó một virus RNA sợi đơn âm thuộc họ Paramyxoviridae.

doi.jpg
Virus Nipah lây từ động vật sang người qua tiếp xúc trực tiếp hoặc thức ăn nhiễm, và có thể lây từ người sang người trong các môi trường tiếp xúc gần. Ảnh: Getty.

Thủy tinh lỏng ngâm ốc độc hại cỡ nào?

Việc dùng “thủy tinh lỏng” ngâm ốc giúp tạo độ giòn, bóng đẹp giả tạo nhưng tiềm ẩn nguy cơ gây tổn thương hệ tiêu hóa, gan, thận cho người tiêu dùng.

Ngày 27/1, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường (PC03) - Công an TP.HCM cho biết đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Huỳnh Văn Trường (47 tuổi, ở Cần Thơ), để điều tra về tội "vi phạm quy định về an toàn thực phẩm". Trường cầm đầu đường dây vụ ngâm 3.000 tấn ốc bươu bằng 500 tấn hóa chất dùng trong xây dựng từ năm 2021 đến nay.

oc.jpg
Cơ sở các đối tượng ngâm ốc bằng hóa chất để đưa ra thị trường tiêu thụ. (Ảnh: Công an cung cấp). Nguồn: Nhân Dân.

Đọc nhiều nhất

Tin mới