GS Hoàng Xuân Hãn được giới trí thức và học thuật ghi nhận là một học giả uyên bác, mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc. Trong bối cảnh học giới đương thời, ông được tôn vinh là một trong “Nghệ Tĩnh tứ kiệt”, cùng với Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy và Đặng Thai Mai – những đại diện tiêu biểu của trí tuệ Việt Nam thế kỷ XX.
Song hành bền bỉ cùng GS Hoàng Xuân Hãn là người vợ tài năng – dược sĩ Nguyễn Thị Bính. Cuộc gắn bó của họ không chỉ dừng ở nghĩa tình phu thê, mà còn là sự đồng điệu về lý tưởng và trách nhiệm với đất nước. Chính sự chia sẻ và nâng đỡ thầm lặng ấy đã trở thành điểm tựa vững chắc, để GS Hoàng Xuân Hãn trọn đời dấn thân cho khoa học, giáo dục và văn hóa dân tộc.
GS Hoàng Xuân Hãn, bậc trí giả uyên bác và tư duy canh tân giáo dục
GS Hoàng Xuân Hãn (1908–1996) là một nhân vật đặc biệt trong lịch sử văn hóa và khoa học Việt Nam hiện đại. Sinh ra tại vùng đất học Hà Tĩnh, ông sớm bộc lộ tư chất xuất sắc, đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài bản xứ và được cấp học bổng sang Pháp du học.
Tại đây, ông thi đỗ École Polytechnique, tiếp tục học tại Trường Cầu đường Paris (École nationale des ponts et chaussées), đồng thời lấy bằng cử nhân toán học tại Đại học Sorbonne. Nền tảng khoa học tự nhiên vững chắc, kết hợp với mối quan tâm sâu sắc đến văn hóa – lịch sử dân tộc, đã hình thành nên một học giả Hoàng Xuân Hãn uyên bác, nghiêm cẩn và giàu tinh thần khai sáng.
Đóng góp mang tính bước ngoặt của ông là việc soạn thảo Chương trình Trung học Việt Nam năm 1945 – thường được gọi là Chương trình Hoàng Xuân Hãn – khi ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim. Chương trình này đặt nền móng cho việc giảng dạy bằng chữ Quốc ngữ, mở ra một hướng đi mới cho nền giáo dục độc lập.
“O tròn như quả trứng gà,
Ô thì đội mũ, Ơ thời có râu…
I, Tờ có móc cả hai,
I ngắn có chấm, Tờ dài có ngang.”
Những câu vần vè mô tả mặt chữ từng vang lên trong các lớp học tạm bợ ở làng quê những năm đầu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đơn giản, dễ nhớ, các câu thơ này trở thành “bài học nhập môn” của phong trào Bình dân học vụ, góp phần xóa mù chữ trên quy mô lớn chưa từng có. Những câu thơ ấy được nhiều tư liệu ghi nhận gắn liền với GS Hoàng Xuân Hãn.
Năm học 1945–1946 đánh dấu bước ngoặt lớn của giáo dục Việt Nam, khi tiếng Việt lần đầu tiên được sử dụng làm ngôn ngữ giảng dạy chính thức ở bậc trung học và đại học, thay thế tiếng Pháp.
Bên cạnh giáo dục, GS Hoàng Xuân Hãn còn để lại dấu ấn sâu đậm với các công trình nghiên cứu lịch sử – văn hóa như Lý Thường Kiệt, La Sơn Phu Tử, Lịch sử và Lịch Việt Nam. Cụm công trình này được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và Công nghệ năm 2000. Ông cũng có nhiều đóng góp trong việc hiệu đính, chú giải các tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm, góp phần làm sáng tỏ giá trị di sản ngôn ngữ dân tộc.
Mối tình sắt son của hai trí thức
Dược sĩ Nguyễn Thị Bính là một trong số rất ít phụ nữ Việt Nam đầu thế kỷ XX tốt nghiệp Dược sĩ hạng nhất tại Đại học Dược khoa Paris, trong bối cảnh con đường học thuật ở châu Âu gần như chỉ dành cho nam giới.
Mối duyên giữa bà và GS Hoàng Xuân Hãn bắt đầu năm 1934 trên chuyến tàu từ Việt Nam sang Pháp. Giữa hành trình dài vượt đại dương, những cuộc trò chuyện về học tập, thời cuộc và vận mệnh đất nước đã gắn kết hai trí thức trẻ cùng chung lý tưởng. Hai năm sau, họ kết hôn (1936), mở đầu cho một cuộc đồng hành kéo dài trọn đời.
Trở về Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bính mở hiệu thuốc tân dược tại phố Tràng Thi, vừa hành nghề chuyên môn, vừa trở thành trụ cột kinh tế của gia đình. Hiệu thuốc không chỉ là nơi chữa bệnh cho người dân, mà còn là điểm liên lạc kín đáo của giới trí thức yêu nước, tạo điều kiện để GS Hoàng Xuân Hãn toàn tâm cho giảng dạy, nghiên cứu và hoạt động học thuật.
Theo nhiều tư liệu, bà trực tiếp hỗ trợ tài chính và tổ chức cho việc tìm kiếm, chuộc lại, sao chép các tư liệu văn hóa – lịch sử quý hiếm mà GS Hoàng Xuân Hãn theo đuổi, trong đó có những văn bản cổ liên quan đến La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp và triều đại Tây Sơn.
Đầu xuân 1951, khi GS Hoàng Xuân Hãn bị chính quyền bù nhìn đe dọa bắt giữ, ông buộc phải rời Hà Nội sang Pháp, một mình lên máy bay với hai va-li nhỏ chứa những tư liệu văn hóa – lịch sử quý giá nhất. Ở lại Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bính tiếp tục giữ vai trò đầu mối liên lạc, tạo điều kiện để tổ chức cách mạng kết nối với GS Hoàng Xuân Hãn và các trí thức Việt kiều tại Paris.
Trong bối cảnh Hội nghị Genève bàn về việc lập lại hòa bình ở Triều Tiên và Đông Dương, một bản kiến nghị đòi hòa bình do hàng trăm trí thức Hà Nội ký tên đã được chuyển sang Paris. Văn bản này được hai tờ báo lớn Le Monde và L’Humanité đăng toàn văn trên trang nhất. Về sau mới rõ, việc chuyển bản kiến nghị an toàn, kịp thời có sự góp công quan trọng của bà Nguyễn Thị Bính, người trực tiếp mang văn bản sang Pháp.
Cuộc hôn nhân của họ kéo dài trọn 60 năm, cho đến khi GS Hoàng Xuân Hãn qua đời năm 1996. Có lẽ, nếu không có sự đồng lòng và hy sinh của vợ, GS Hoàng Xuân Hãn khó có thể để lại một khối lượng di sản đồ sộ như vậy.