Anh hùng Lao động, Thầy thuốc Nhân dân, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm là một trong những gương mặt tiên phong của y học Việt Nam, với hàng loạt kỹ thuật điều trị mới được nghiên cứu, ứng dụng và ghi nhận ở trong nước cũng như quốc tế. Với những gia đình có người thân mang bệnh, ông như vị cứu tinh vì đã mang lại cuộc sống mới cho người thân của họ.
Người tiên phong đưa phẫu thuật nội soi nhi Việt Nam ra thế giới
Gần 40 năm gắn bó với Bệnh viện Nhi Trung ương, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm là một trong những người tiên phong đưa phẫu thuật nội soi nhi khoa vào Việt Nam, đồng thời triển khai nhiều kỹ thuật khó như ghép thận, ghép gan và phẫu thuật tách song sinh dính liền ở trẻ em.
Dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp của ông là ca phẫu thuật tách cặp song sinh Cúc - An năm 2003. Hai bé dính nhau từ vùng xương ức xuống bụng, nhiều cơ quan quan trọng cùng nằm trong khối dính. Ca mổ kéo dài gần 10 giờ, các phần dính gồm xương ức, khoang màng tim, gan, tá tràng và ruột non được tách thành công.
Ca phẫu thuật khi đó nhận được sự quan tâm lớn của dư luận và được báo chí liên tục cập nhật. Nhiều năm sau, Cúc và An vẫn dành tình cảm đặc biệt cho GS.TS Nguyễn Thanh Liêm cùng các bác sĩ đã điều trị cho mình, coi ông như “người cha thứ hai”.
Trong hành trình làm nghề, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm còn ghi dấu với nhiều công trình nghiên cứu về ghép tạng và phẫu thuật nội soi trẻ em. Cụm công trình ghép tạng của ông được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005. Năm 2012, Cụm công trình nghiên cứu phẫu thuật nội soi trẻ em tiếp tục được trao Giải thưởng Nhân tài Đất Việt.
Tại châu Á, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm thuộc nhóm những người triển khai sớm phẫu thuật nội soi trẻ em, với 9 kỹ thuật mổ nội soi mới. Riêng trong lĩnh vực phẫu thuật u nang ống mật chủ, ông có 6 công trình nghiên cứu và đã phẫu thuật cho hơn 500 bệnh nhân. Với kỹ thuật nội soi điều trị thoát vị cơ hoành, số bệnh nhân được điều trị lên tới hơn 300 trường hợp.
Những kết quả nghiên cứu và điều trị của ông cũng được giới chuyên môn quốc tế ghi nhận. GS.TS Nguyễn Thanh Liêm từng được mời viết chương về u nang ống mật chủ trong sách giáo khoa Nhi dành cho bác sĩ tại Anh và Mỹ. Ông cũng được mời thực hiện các ca mổ trình diễn, chuyển giao kỹ thuật tại nhiều quốc gia như Italy, Hà Lan, Ấn Độ, Philippines và Indonesia.
Chọn ngành Y từ ký ức buồn tuổi thơ
Sinh năm 1952 tại Quảng Xương (Thanh Hóa), Nguyễn Thanh Liêm lớn lên trong một gia đình nghèo giữa những năm tháng chiến tranh. Tuổi thơ và những năm tháng học trò của ông sớm in dấu những mất mát, nhọc nhằn, nhưng cũng chính từ đó hình thành quyết tâm theo đuổi nghề y.
Năm 16 tuổi, khi đang học lớp 10, ông chứng kiến mẹ lâm bệnh nặng rồi qua đời. Những cơn ho dữ dội, những phút giây người mẹ vật vã chống chọi với bệnh tật trở thành ký ức ám ảnh ông suốt nhiều năm. Nỗi đau ấy càng lớn khi gia đình vốn đã nghèo khó lại mất đi người phụ nữ gánh vác việc nhà.
Trong khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước diễn ra ác liệt, cha ông phải một mình nuôi 6 người con. Người anh cả lên đường nhập ngũ rồi hy sinh. Trước cảnh cha ngày đêm tần tảo, Nguyễn Thanh Liêm từng xin nghỉ học để ở nhà làm ruộng, phụ giúp gia đình. Nhưng cha ông không đồng ý, chỉ động viên con tiếp tục học: “Con phải cố gắng học vì bản thân con và vì gia đình”.
Lời động viên ấy trở thành điểm tựa để ông tiếp tục con đường học tập. Ban ngày đi học, ông tranh thủ làm thêm để đỡ đần gia đình. Ở trường, một thầy giáo dạy Văn nhận thấy ông có năng khiếu và khuyên thi vào Trường Đại học Tổng hợp. Tuy nhiên, những ký ức về bệnh tật và cái chết của mẹ, cùng việc chứng kiến nhiều người trong làng mắc những căn bệnh không rõ nguyên nhân, lại hướng ông đến một lựa chọn khác.
Ông quyết định thi vào Trường Đại học Y Hà Nội và trúng tuyển với số điểm cao. Tháng 9/1970, chàng trai quê Quảng Xương ra Hà Nội bắt đầu hành trình học tập tại Trường Đại học Y Hà Nội. 6 năm sau, với thành tích học tập xuất sắc, ông được nhà trường lựa chọn đào tạo bác sĩ nội trú tại Bệnh viện Hữu nghị Việt - Đức, chuyên ngành Ngoại nhi.
Năm 1979, sau khi hoàn thành chương trình với tấm bằng xuất sắc, ông được phân công về công tác tại Khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai. Đây là giai đoạn hệ thống điều trị nhi khoa chuyên sâu của Việt Nam còn đang trong quá trình hình thành.
Ghép tế bào gốc, dấu ấn lớn trong y học Việt Nam
Ghép tế bào gốc là một trong những công trình khoa học mà GS.TS Nguyễn Thanh Liêm dành nhiều tâm huyết. Từ khi còn là Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, ông đã tiên phong nghiên cứu và ứng dụng tế bào gốc trong điều trị một số bệnh lý ở trẻ em, trong đó có các nghiên cứu liên quan đến bệnh lý suy tụy và tan máu.
Ông là người đầu tiên tại Việt Nam thực hiện thành công ghép tế bào gốc điều trị xơ phổi ở trẻ sơ sinh và rối loạn đại tiện ở trẻ bị thoát vị màng não tủy. Cùng các đồng nghiệp, ông tiếp tục ứng dụng tế bào gốc trong điều trị nhiều bệnh lý như đau tủy, liệt tủy do chấn thương cột sống, teo đường mật bẩm sinh, thoái hóa khớp gối và xơ gan ở trẻ em.
Năm 2012, sau khi rời công tác quản lý tại Bệnh viện Nhi Trung ương, ông dành nhiều thời gian hơn cho nghiên cứu khoa học. Tại Vinmec, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm tiếp tục thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng tế bào gốc, trong đó có những hướng điều trị cho trẻ mắc bại não và tự kỷ.
Năm 2018, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm trở thành bác sĩ Việt Nam đầu tiên và duy nhất tính đến thời điểm đó được trao Giải thưởng Nikkei Châu Á về khoa học - công nghệ, ghi nhận những đóng góp của ông trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi nhi khoa và ghép tế bào gốc.
Đến nay, GS.TS Nguyễn Thanh Liêm có khoảng hơn 200 công trình nghiên cứu y học, trong đó 84 công trình được công bố trên các tạp chí y khoa uy tín của Mỹ và châu Âu. Ông cũng là đồng tác giả của hai sách giáo khoa về phẫu thuật nhi xuất bản tại Mỹ, Anh và bốn đầu sách tại Việt Nam.
Những giải thưởng lớn GS Nguyễn Thanh Liêm từng nhận:
• Năm 2019: Là 1 trong 2 nhà khoa học Việt Nam lọt TOP 100 nhà khoa học tiêu biểu của Châu Á (Asian Scientist).
• Năm 2018: Giải thưởng Nikkei vì những cống hiến trong lĩnh vực phẫu thuật nội soi nhi khoa và ghép tế bào gốc góp phần đem lại sự thay đổi cho cuộc sống người dân châu Á.
• Năm 2012: Giải thưởng Nhân tài đất Việt cho công trình "Cụm công trình nghiên cứu phẫu thuật nội soi trẻ em".
• Năm 2008: Được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.
• Năm 2005: Giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm công trình ghép tạng.
• Năm 1999: Giải nhất Giải thưởng khoa học sáng tạo VIFOTEC.
Bài viết nằm trong tuyến bài “Chân dung nhà khoa học” hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA).