Được đào tạo tại những trường đại học danh tiếng của Nhật Bản, từng là người nước ngoài hiếm hoi được bổ nhiệm giảng sư Đại học Kyoto, nhưng GS Lương Định Của lại chọn trở về gắn bó với đồng ruộng quê nhà. Từ những hạt giống mang về từ nước ngoài do ông dày công tuyển chọn, cùng với tình yêu đất nước, ông đã mở ra một hành trình cống hiến đặc biệt cho nền nông nghiệp Việt Nam.
Trở về với chiếc va ly lúa giống cùng tình yêu đất nước
GS Lương Định Của sinh ngày 16/8/1920 tại làng Đại Ngãi, quận Kế Sách (nay thuộc tỉnh Sóc Trăng), trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Từ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, ham học. Mồ côi cha mẹ khi mới 12, 13 tuổi, ông được người thân nuôi dưỡng, học ở Sài Gòn và lấy bằng tú tài năm 17 tuổi.
Sau đó, ông lần lượt theo học tại Hồng Kông, Trung Quốc trước khi sang Nhật Bản, nơi ông chọn con đường nghiên cứu nông học với mong muốn sau này trở về phục vụ đất nước. Tại Đại học Kyushu, bằng tài năng và nỗ lực, ông được cấp học bổng, tốt nghiệp Cử nhân Nông học năm 1945.
Năm 1951, GS Lương Định Của bảo vệ xuất sắc luận án về di truyền học với đề tài nghiên cứu phương pháp xử lý đa bội thể để tạo giống lúa mới tại Đại học Kyoto. Ông được cấp học vị Bác sĩ Nông học, học vị cao nhất của ngành nông học Nhật Bản thời bấy giờ, trở thành người Việt Nam, người nước ngoài duy nhất và cũng là người trẻ nhất được nhận học vị này tại Nhật. Sau đó, ông được Bộ Giáo dục Nhật Bản bổ nhiệm làm giảng sư Đại học Kyoto, một vị trí hiếm có đối với người nước ngoài thời điểm đó.
Năm 1945, ông kết hôn với bà Nakamura Nobuko, nữ sinh viên quê ở Kyushu. Hai người có 5 người con, sinh ra tại Nhật Bản và Việt Nam.
Năm 1952, với tình yêu đất nước, GS Lương Định Của cùng gia đình rời Nhật Bản trở về phục vụ Tổ quốc. Hành trình hồi hương qua Hồng Kông, Sài Gòn gặp nhiều khó khăn khi giấy tờ, tiền bạc và hành lý bị thất lạc. May mắn nhờ sự giúp đỡ của người bạn học Trương Văn Hi, gia đình ông về nước an toàn. Đặc biệt, chiếc va ly đựng những giống lúa quý ông dày công tuyển chọn từ Nhật Bản vẫn nguyên vẹn, trở thành nguồn tư liệu quý cho những công trình nghiên cứu nông nghiệp của ông sau này.
Những giống lúa, khoai, dưa... mang tên "ông Của"
Nhiều thế hệ học sinh 7x, 8x vẫn không quên câu chuyện câu chuyện “mấy ông đi ô tô thì biết gì về cấy lúa” về Giáo sư Lương Định Của trong sách “Kể chuyện” thời tiểu học.
Chuyện kể, trong một lần đi công tác qua cánh đồng của bà con nông dân, thấy cách cấy lúa truyền thống còn nhiều hạn chế, tốn công mà năng suất chưa cao, Giáo sư Lương Định Của đã dừng xe, xuống ruộng góp ý. Thấy một người từ thành phố đi ô tô đến chỉ dẫn việc đồng áng, một số bà con tỏ vẻ nghi ngờ, nói vui: “Mấy ông đi ô tô thì biết gì”.
Không tranh luận, ông xắn quần lội xuống ruộng, cầm nắm mạ trên tay nông dân và trực tiếp thực hiện thao tác cấy. Những cây mạ được ông cấy nhanh, đều, thẳng hàng. Đó chính là kỹ thuật “cấy ngửa tay”, phương pháp được ông đưa từ Nhật Bản về Việt Nam, giúp cây lúa không bị vùi quá sâu trong bùn, sinh trưởng tốt hơn.
Từ những kinh nghiệm học hỏi ở nước ngoài, đặc biệt là Nhật Bản, Giáo sư Lương Định Của đã nghiên cứu, cải tiến và đưa vào thực tiễn nhiều kỹ thuật canh tác mới như cấy chăng dây thẳng hàng, dùng cào cỏ Nhật Bản, cùng các mô hình “bờ vùng, bờ thửa”, “cấy nông tay thẳng hàng”, “bảo đảm mật độ”. Những phương pháp này được hàng triệu nông dân áp dụng, góp phần tạo nên những thay đổi quan trọng trong sản xuất lúa, giúp tiết kiệm nước, phân bón, hạn chế sâu bệnh và nâng cao năng suất cây trồng.
Với quan niệm khoa học phải gắn với thực tiễn sản xuất, Giáo sư Lương Định Của không chỉ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mà thường xuyên xuống đồng ruộng, trực tiếp hướng dẫn nông dân, lắng nghe kinh nghiệm từ thực tế canh tác.
Tháng 9/1946, khi Trường Đại học Nông nghiệp được thành lập, ông được bổ nhiệm làm Phó Hiệu trưởng, phụ trách chuyên môn. Dù là nhà bác học trong lĩnh vực nông nghiệp, giữ cương vị lãnh đạo một trường đại học trọng điểm, ông vẫn giữ lối sống giản dị, làm việc trong căn phòng đơn sơ và dành phần lớn thời gian cho các cánh đồng thí nghiệm. Ngoài giờ giảng dạy, họp Đảng ủy, Ban Giám hiệu, ông vẫn xắn quần xuống ruộng, trực tiếp nghiên cứu như một người nông dân thực thụ.
Từ những giống lúa mang về từ Nhật Bản, ông đã lai tạo thành công giống lúa Nông nghiệp 1, giống lúa lai đầu tiên ở nước ta, được tạo ra từ giống lúa Ba Thắc (Nam Bộ) và Bun Kô (Nhật Bản). Giống lúa này đã góp phần nâng cao năng suất, giải quyết một phần bài toán lương thực của đất nước trong giai đoạn khó khăn.
Bên cạnh đó, ông còn nghiên cứu, lai tạo nhiều giống lúa có giá trị như Mùa muộn, Chiêm 314, 388 (được phân lập từ dòng IR8 hay Nông nghiệp 8), Xuân sớm (Nông nghiệp 75-1). Những giống cây trồng này có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt và thích ứng với nhiều điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng. Ngoài cây lúa, Giáo sư Lương Định Của còn lai tạo thành công nhiều giống dưa lê, cà chua, khoai lang, dưa hấu không hạt, chuối, rau, táo... nổi tiếng ở miền Bắc.
Những kỹ thuật canh tác giản dị nhưng hiệu quả mà ông đưa vào sản xuất đã được hàng chục triệu nông dân miền Bắc áp dụng, trở thành những tri thức nông nghiệp gần gũi với đời sống.
Nông dân gọi ông bằng cái tên thân mật “bác Của”, không phải vì học vị bác sĩ nông học, mà bởi sự gần gũi, gắn bó như người trong gia đình. Những thành tựu khoa học của ông cũng được bà con gọi bằng những cái tên mộc mạc như “lúa ông Của”, “khoai ông Của”, “dưa lê ông Của”.
Đến nay, nhiều người dân huyện Thọ Xuân (Thanh Hóa) vẫn nhớ hình ảnh “bác Của” gầy gò, nói giọng Nam Bộ, quần ống thấp ống cao, ngày ngày lội ruộng từ sáng đến chiều tối để nghiên cứu và hướng dẫn bà con làm nông nghiệp. Hình ảnh ấy đã trở thành biểu tượng về một nhà khoa học luôn đặt tri thức phục vụ nhân dân và đồng ruộng quê hương.
Không chỉ là một nhà khoa học lớn của nền nông nghiệp Việt Nam, Lương Định Của còn là một nhà giáo tận tâm, người thầy luôn hết lòng vì sự nghiệp đào tạo thế hệ kế cận. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, ông đã góp phần đào tạo nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, truyền lại cho học trò không chỉ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn mà còn là niềm say mê nghiên cứu và tinh thần cống hiến. Ông luôn khuyến khích học trò tư duy độc lập, không ngừng học hỏi, sáng tạo để đóng góp vào sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà.
Ông còn tham gia công tác xã hội, chính trị với vai trò đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV, V; đồng thời là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên tục từ năm 1955 đến 1975.
Những đóng góp to lớn của bác sĩ nông học Lương Định Của đã được Đảng, Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý. Năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất và năm 1996 được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học - Kỹ thuật đợt đầu tiên.
Không chỉ là nhà khoa học hàng đầu của ngành nông nghiệp, ông còn tham gia công tác xã hội, chính trị với vai trò đại biểu Quốc hội các khóa II, III, IV, V; đồng thời là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam liên tục từ năm 1955 đến 1975.
Để ghi nhớ những cống hiến của ông, nhiều tuyến đường, trường học tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Sóc Trăng đã mang tên Lương Định Của. Năm 2006, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh thành lập Giải thưởng Lương Định Của, trao tặng hằng năm cho những thanh niên nông thôn tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển ngành nghề, bảo vệ môi trường và xây dựng nông thôn mới.