Đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử

Sáng 29/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV.

Tại Hội nghị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh".

Quán triệt chuyên đề “Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam”, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị cho biết, sau 40 năm đổi mới, đất nước đã đạt nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm, đổi mới quản trị quốc gia chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Trong khi đó, bối cảnh thế giới đang có những thay đổi mang tính thời đại, đòi hỏi đất nước phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện mô hình phát triển trong thời gian tới.

544444.png
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị quán triệt Nghị quyết. Ảnh: VGP.

Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập

Theo Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Trung ương Đảng đã ban hành nghị quyết xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tổng thể, toàn diện đổi mới mô hình phát triển đất nước cho giai đoạn đến 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến 2130.

Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; thể hiện các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, đó là thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Đồng thời, thể hiện nội hàm của đổi mới mô hình phát triển, đó là đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo năng lực phát triển mới; chuyển đổi sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập - mô hình lấy con người là trung tâm, mục tiêu, động lực và chủ thể phát triển; nâng cao sức mạnh tổng hợp, tiềm lực quốc gia, chất lượng đời sống và hạnh phúc của nhân dân làm trục xuyên suốt; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính; lấy phát triển để ổn định, ổn định để phát triển và lấy nâng cao năng suất lao động, hiệu quả huy động, phân bổ nguồn lực quốc gia là những nguyên tắc trung tâm.

Thể hiện cơ chế vận hành và vị trí của các mô hình thành phần. Mô hình phát triển vận hành đồng bộ theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản trị, nhân dân làm chủ"; dựa trên nền quản trị quốc gia hiện đại và mối quan hệ hài hòa, hiệu quả giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; tổ chức phát triển trong không gian tích hợp, đa tầng, liên thông, tạo liên kết và lan tỏa.

Đồng thời, thể hiện định hướng khai thác, phát huy mọi nguồn lực cho đổi mới mô hình phát triển, hướng đến phát triển đất nước giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển; nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, sức chống chịu, khả năng thích ứng, tự phục hồi và quản trị rủi ro; không ngừng bồi đắp năng lực quốc gia, bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và trường tồn.

Cùng với đó, thể hiện phương thức triển khai thực hiện. Đổi mới mô hình phát triển phải được thực hiện đồng bộ, toàn diện và phù hợp với từng giai đoạn; bảo đảm gắn kết hữu cơ các trụ cột phát triển thành một thể thống nhất.

Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Nghị quyết đề ra mục tiêu cho các giai đoạn đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Nghị quyết đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về: Thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị; kinh tế; xã hội; văn hóa; con người; môi trường sinh thái; quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Trong đó, nhóm nhiệm vụ, giải pháp về thể chế, quản trị quốc gia và hoàn thiện hệ thống chính trị, gồm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đề cập toàn diện từ công tác lãnh đạo của Đảng đến công tác tổ chức, cán bộ; quản trị thực thi theo mục tiêu, kết quả đầu ra; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội; xây dựng pháp luật theo hướng mở, linh hoạt, thích ứng nhanh;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kinh tế, gồm các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, đó là: Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo tư duy đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ. Xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển và có năng lực cạnh tranh hàng đầu trong các ngành công nghiệp biển; phát triển kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm. Phát triển đồng bộ, hiện đại, minh bạch, an toàn và liên thông các thị trường nhân tố sản xuất;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về xã hội, có các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, gồm: Xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa tầng, bao trùm, linh hoạt, thích ứng cao. Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, có niềm tin, có năng lực chống chịu. Đổi mới quản trị phát triển nguồn nhân lực và hiện đại hóa thị trường lao động;…

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về văn hóa, con người, gồm các nhiệm vụ, giải pháp, đó là: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo; xuất khẩu văn hóa; tài sản hóa các giá trị văn hóa; xây dựng văn hóa số, bảo vệ chủ quyền văn hóa số quốc gia.

Phát triển con người Việt Nam toàn diện; nuôi dưỡng khát vọng phát triển, khát vọng cống hiến; thấm nhuần văn hóa dân tộc; chủ động ứng phó với tác động tiêu cực của công nghệ, truyền thông và biến đổi xã hội. Xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về phát triển, thu hút và trọng dụng nhân tài; thu hút mạnh mẽ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học Việt kiều và nhân tài quốc tế;…

Tầm nhìn chiến lược trên nền tảng những tư duy mới và đột phá về biển

Về Chuyên đề "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh", ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước và thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược trên biển ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cần xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn chiến lược, toàn diện với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Nghị quyết xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.

Cụ thể, về 5 nhóm quan điểm chỉ đạo. Quan điểm thứ nhất là xác định rõ vai trò, vị trí của biển trong giai đoạn phát triển mới. Quan điểm thứ hai là đặt ra yêu cầu mới về việc đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW. Quan điểm thứ ba là khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực chính trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Quan điểm thứ tư là nhận diện đầy đủ các yếu tố bảo đảm tính "bền vững" trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Quan điểm thứ năm là đề ra trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể.

Về các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra 6 nhóm mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2026-2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về kinh tế; phát triển không gian biển, hạ tầng biển; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; văn hoá, xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Về 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, Nghị quyết nêu rõ yêu cầu: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia.

Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh.

Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới.

Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực.

Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.

Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.

Nhấn mạnh Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh thể hiện tầm nhìn chiến lược trên nền tảng những tư duy mới và đột phá về biển, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đề nghị các đại biểu tham dự Hội nghị quán triệt sâu sắc; nâng cao nhận thức trong tư duy và hành động; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt để tổ chức thực hiện thành công mục tiêu đề ra.

Đến 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao

Theo Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị, Trung ương đã thống nhất các mục tiêu theo các mốc đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130.

Đến 2030, hoàn thành các nền tảng cho mô hình phát triển mới trên các lĩnh vực, phù hợp với trình độ phát triển của nước công nghiệp hiện đại có thu nhập trung bình cao. Đến 2035, hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Đến 2045, hoàn thành chuyển đổi sang mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập và các mô hình thành phần được vận hành đồng bộ, hài hòa, hiệu quả. Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Kinh tế phát triển dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xanh, tuần hoàn, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng; làm chủ được các công nghệ chiến lược quan trọng; xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển.

Định hướng tầm nhìn đến 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu châu Á. Đồng thời có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.

>>> Mời độc giả xem thêm video Người trẻ khởi nghiệp nắm bắt xu hướng tạo ra cơ hội:

Nguồn video: VTV1.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV sáng 29/7.

Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

44444.png
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV tại phòng họp Diên Hồng. Ảnh: VGP.

Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3.

Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng.

674.png
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: VGP

Thông báo Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20/7 đến ngày 24/7 tại Thủ đô Hà Nội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì và có bài phát biểu quan trọng khai mạc, bế mạc Hội nghị.

Tại Hội nghị, sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

Đọc nhiều nhất

Tin mới