Các bác sĩ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức vừa phẫu thuật điều trị động kinh cho trường hợp người bệnh nam, 20 tuổi, dưới hướng dẫn của điện não đồ vỏ não ECoG (Electrocorticography).
Đây là trường hợp động kinh kháng thuốc kéo dài nhiều năm, các cơn co giật xảy ra liên tục trong ngày, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.
Đây cũng là trường hợp đầu tiên được thực hiện kỹ thuật này tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đánh dấu bước tiến trong ứng dụng các phương pháp thăm dò và điều trị hiện đại đối với động kinh kháng thuốc.
Uống 3 loại thuốc, động kinh vẫn xuất hiện 4-5 cơn mỗi ngày
ThS.BS Tạ Hồng Nhung, Khoa Nội – Hồi sức Thần kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Người bệnh bị động kinh từ khi hơn 1 tuổi, biểu hiện bằng các cơn co giật nửa người hoặc cơn tăng động, sợ hãi và ngày càng trở nên kháng thuốc. Người bệnh đã đi khám và điều trị nhiều nơi với nhiều loại thuốc khác nhau nhưng cơn không có dấu hiệu suy giảm mà còn có xu hướng tăng cơn.
Cơn động kinh xuất hiện gần như hàng ngày từ vài cơn cho đến vài chục cơn một ngày thậm chí có nhiều ngày người bệnh không thể tỉnh dậy để uống thuốc. Trước phẫu thuật, người bệnh đang được điều trị 3 loại thuốc chống động kinh: Depakin, Tegretol và Gardenal với liều tối đa nhưng vẫn xuất hiện 4-5 cơn mỗi ngày.
Người bệnh đã được ghi điện não đồ video ngoài da đầu kéo dài và chụp cộng hưởng từ sọ não xác định cơn động kinh do loạn sản vỏ não thùy trán gây nên.
Đây là một dạng dị tật trong quá trình phát triển vỏ não, một nguyên nhân phổ biến gây động kinh kháng thuốc ở trẻ em và có chỉ định phẫu thuật cắt bỏ tổn thương. Tuy nhiên, tỷ lệ không hết cơn sau mổ loạn sản vỏ não khá cao tới 40-50% do không cắt hết được vùng sinh động kinh bằng mắt thường.
Ngày 02/4/2026, người bệnh được phẫu thuật dưới hướng dẫn của kỹ thuật ECoG. Trên hình ảnh cộng hưởng từ sọ não, tổn thương được xác định khá khu trú, nếu chỉ dựa vào dữ liệu này, phạm vi cắt bỏ sẽ rất hẹp.
Tuy nhiên, trong quá trình phẫu thuật, ê-kíp do PGS.TS Đồng Văn Hệ, Phó Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Chủ tịch Hội Phẫu thuật Thần kinh Việt Nam phụ trách đã sử dụng ECoG để ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não.
Kết quả cho thấy vùng sinh động kinh rộng hơn so với hình ảnh cộng hưởng từ, vì vậy phẫu thuật viên đã mở rộng diện cắt thêm khoảng 2-3 cm so với ranh giới tổn thương trên phim.
Trong suốt quá trình phẫu thuật, các điện cực được đặt trực tiếp lên vỏ não và cả diện cắt tổn thương để liên tục theo dõi hoạt động điện. Dựa vào tín hiệu ghi nhận được, ê-kíp đã xác định chính xác thời điểm dừng cắt bỏ, đảm bảo loại bỏ tối đa vùng sinh động kinh nhưng vẫn bảo tồn chức năng thần kinh quan trọng.
Mở rộng diện cắt, bảo tồn thần kinh
Các bác sĩ nhận định, nếu chỉ dựa vào các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như trước đây, phạm vi phẫu thuật có thể không đủ rộng, dẫn đến nguy cơ tái phát cao và khó đạt hiệu quả điều trị tối ưu. Việc ứng dụng ECoG đã giúp mở rộng diện cắt một cách chính xác, nâng cao khả năng kiểm soát cơn sau mổ.
Sau phẫu thuật tới nay, người bệnh không còn cơn dù chưa dùng lại thuốc chống động kinh. Đây được xem là bước ngoặt quan trọng trong phẫu thuật động kinh, mở ra hướng tiếp cận hiện đại, cá thể hóa điều trị cho người bệnh động kinh kháng thuốc.
PGS.TS Đồng Văn Hệ cho biết: Ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não bằng kỹ thuật ECoG (Electrocorticography) đang trở thành công cụ quan trọng giúp nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị động kinh, đặc biệt ở những trường hợp động kinh kháng thuốc hoặc khó xác định vùng tổn thương bằng các phương pháp thông thường.
ECoG là phương pháp ghi điện não trực tiếp từ bề mặt vỏ não thông qua các điện cực đặt ngay trên nhu mô não trong quá trình phẫu thuật. Khác với điện não đồ thường quy (EEG) ghi tín hiệu qua da đầu nên tín hiệu bị suy giảm, ECoG ghi trực tiếp giúp thu nhận tín hiệu với độ phân giải không gian và thời gian cao hơn, từ đó cung cấp thông tin chính xác hơn về hoạt động điện của não.
Trong thực hành lâm sàng, ECoG có ba vai trò chính gồm: chẩn đoán vùng sinh động kinh, hướng dẫn phẫu thuật và đánh giá sau khi cắt bỏ tổn thương. Nhờ khả năng ghi nhận trực tiếp các tín hiệu bất thường, ECoG giúp xác định chính xác vùng phát sinh cơn động kinh, đồng thời phân biệt với vùng lan truyền hoặc các biểu hiện thứ phát.
Kỹ thuật này đặc biệt hữu ích trong các trường hợp hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) không phát hiện tổn thương, tổn thương lan tỏa hoặc người bệnh bị động kinh kháng thuốc.
ECoG cũng cho phép phát hiện các dạng sóng đặc trưng như sóng nhọn, sóng cao nhọn, các phức hợp nhọn – cao nhọn và đặc biệt là các dao động tần số cao (High-frequency oscillations – HFOs). Các HFOs có tần số từ 80–500 Hz được đánh giá là dấu hiệu nhạy, liên quan chặt chẽ với vùng sinh động kinh và có giá trị cao trong định vị vùng cần can thiệp.
Ngoài ra, khi kết hợp kích thích điện, ECoG còn hỗ trợ lập bản đồ chức năng vỏ não, xác định các vùng vận động, ngôn ngữ và cảm giác, giúp phẫu thuật viên tránh cắt vào các vùng chức năng quan trọng.
Trong quá trình phẫu thuật, ECoG được sử dụng để định vị ranh giới cắt bỏ tổn thương. Dựa vào sự xuất hiện của các sóng bất thường, phẫu thuật viên có thể mở rộng hoặc thu hẹp diện cắt nhằm đảm bảo cắt bỏ đầy đủ vùng sinh động kinh nhưng vẫn bảo tồn tối đa chức năng thần kinh.
Sau khi cắt bỏ, ECoG tiếp tục được sử dụng để kiểm tra lại. Nếu vẫn còn các sóng nhọn bất thường, phẫu thuật viên có thể cân nhắc cắt thêm; ngược lại, nếu tín hiệu bất thường đã hết, tiên lượng kiểm soát cơn động kinh sẽ tốt hơn.
Kỹ thuật này được ứng dụng hiệu quả trong nhiều loại phẫu thuật động kinh như cắt thùy thái dương, cắt vùng tổn thương, cắt vùng vỏ não bệnh hoặc phẫu thuật cắt nửa bán cầu. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc cắt bỏ hoàn toàn vùng có bất thường trên ECoG giúp tăng tỷ lệ hết cơn sau phẫu thuật.
Đồng thời, ECoG giúp cá thể hóa chiến lược phẫu thuật, không phụ thuộc hoàn toàn vào hình ảnh học, cho phép điều chỉnh phạm vi can thiệp phù hợp với từng người bệnh.
Bên cạnh đó, ECoG còn đóng vai trò hỗ trợ các kỹ thuật điều trị hiện đại như Stereo-EEG, phẫu thuật dẫn hướng theo SEEG hoặc đốt laser nhiệt định vị (LITT), góp phần nâng cao hiệu quả điều trị động kinh phức tạp.
Việc ứng dụng ECoG trong phẫu thuật động kinh giúp nâng cao độ chính xác, tối ưu hóa kết quả điều trị và giảm nguy cơ thiếu hụt thần kinh sau phẫu thuật, mở ra cơ hội kiểm soát cơn tốt hơn cho nhiều người bệnh động kinh kháng thuốc.
>>> Mời quý độc giả theo dõi video: Bắt giữ tên đạo chích trộm cắp điện thoại tại bệnh viện. Nguồn ANTV