Tôi đến Nha Trang vào một buổi sớm, hơi lạnh, vị mặn, mùi tanh nồng của biển; tiếng lao xao của bến cá Cù Lao là những âm thanh đầu tiên chào ngày mới của thành phố. Bỗng đâu có tiếng chuông chùa văng vẳng. Tiếng chuông chùa trong một buổi sớm tĩnh mịch trên biển làm lòng người cứ nao nao. ..
Tiếng chuông chùa trên biển
Hỏimột ngư dân mới từ biển về, tôi được biết tiếng chuông ngoài biển đưavào là từ Đảo Hòn Đỏ, trên đảo đó có chùa Tù Tôn. Tôi hỏi bác đường sangđảo. Bữa nay biển động, thuyền to không sang được, muốn sang phải đibằng thuyền thúng.
Nhìnchiếc thuyền thúng, đường kính chỉ cỡ 1m rồi nhìn ra biển mênh môngngoài kia mà lòng tôi không khỏi ngán ngại. Sau hành trình khá vất vả,rồi chiếc thuyền cũng cập bến. Những hòn đá màu đỏ to lớn dựng đứng sátmép nước như một hàng chông bảo vệ đảo, men theo những bậc đá tiến lênlà đủ các loại cây hoa trái, tuy bị nắng và gió biển làm táp lá khôngđược tốt tươi như trong đất liền, nhưng màu xanh của chúng cũng đủ cherợp lối đi yên tĩnh .
Bướcqua một cái cầu dưới là hồ nước nhỏ là đến chùa. Nếu không đang nghethấy tiếng sóng vỗ hẳn ta sẽ quên mất mình đang ở trên đảo mà nghĩ mìnhđang ở trong một thiền viện nào đó trong đất liền.
Saukhi nghe tôi trình bày nguyện vọng của mình, Sư cô nói: Sư trụ trì đãgià, giờ thường ở trong phòng cầu kinh rất ít tiếp khách.
Khôngnản lòng, tôi xin ngồi đợi ở bàn nước dưới khóm đại đang trổ bông trắngmuốt . Đúng 11h, chắc sư thầy cũng cảm động sự kiên trì của kháchphương xa nên đồng ý cho gặp.
Nhà sư với hành trình 50 năm gian khó
SưThích Viên Mãn năm nay 80 tuổi, dáng người nhỏ nhắn, gày gò. Ấn tượngcủa tôi về ông là đôi mắt còn rất sáng. Dưới tán bồ đề, vị sư già kể chotôi nghe về hành trình 50 năm xây đảo của mình.
Ôngngười Phú Yên nhưng tu ở chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa trên núi Sinh Trungbên cầu Hà Ra. Năm 1960, một lần sau buổi cầu kinh đêm, khi nhìn rabiển, ông giật mình thấy một đóa sen hồng rực trong đêm. Sáng ra ông tìmvề phía đó, chỉ thấy trong ánh bình minh một hòn đảo hồng tươi rực rỡ.Tin rằng nơi đó có Phật, ông quyết định rời núi ra biển tu tập.
Ôngkể, đảo nhìn từ đất liền thì đẹp vậy, nhưng địa thế rất hiểm trở. Quanhđảo là những bãi đá dựng đứng, sóng nơi đây lại đập rất mạnh nên thuyềnvào gần đến bờ, sẽ bị sóng đánh va vào đá. Khi lên được đến đảo thì đâylại là một hòn đảo hoang vu chỉ có cỏ gai, đá tảng, không có nước vàkhông một bóng cây. Dù vậy, ông đã nghĩ rằng nếu gai cỏ mọc được thì conngười có thể sinh sống được.
Từniềm tin giản đơn nhưng mãnh liệt đó ông bắt tay vào công cuộc khaiphá. Trước tiên ông tạo một nơi tương đối bằng phẳng để dựng Phật đàn.Ban đầu là đi thu nhặt những hòn đá nhỏ. Sau phải dùng xà beng hoặc cuốcchim như các phu đường sắt. Có những hòn đá trên mặt thì nhỏ song càngđào sâu xuống chân đá càng to lớn ra, phải đào mất hàng tuần. Đá xây nềnmóng được tạo dựng tại chỗ, được chẻ ra từng phiến vuông vức và sắpchồng lên nhau cho thật sít để khỏi phải dùng đến vôi hồ. Lầm lũi, đơnđộc, nhà sư đối phó với thiên nhiên khắc nghiệt .
Chùa đã hình thành, nhưng nan giải nhất trong cuộc chinh phục hoang đảo này là nước.
Dướicái nắng như thiêu đốt, sư Viên Mãn phải gánh nước từ bến lên đỉnh. Mentheo con suối cạn, đường dốc toàn đá và gai nhọn. Có nhiều lùm gai lúcban đầu phải dùng chân giẫm lên, gai châm tuy chảy máu đau đớn nhưng còncó cảm giác dịu mát dưới chân, chứ không dám bước chân lên những tảngđá đang bị nắng nung đỏ. Đau rát và mệt mỏi nhưng nhà sư sợ nhất là ngã.Bởi mỗi giọt nước mang lên được đây đều rất quý, vì vậy nhiều lần tuyđạp chân vào gai, đá nhọn hay trượt chân việc đầu tiên là nhà sư nghiếnrăng đứng thẳng để gánh nước khỏi chòng chành, rớt ra ngoài.
Gánh được nước lên đồi là giải quyết được một phần cơ bản nhất cho công việc khai phá hoang đảo này.
Nhưngmuốn trồng cây thì phải có đất và hành trình gánh đất của ông bắt đầu.Ông mang thuyền đến men bờ sông Cái, qua cầu xóm Bóng chỗ đó đất tốt màtơi xốp. Cần mẫn đào, xúc đóng thành từng bao nhỏ đưa lên thuyền và tiếptục hành trình gánh đất lên đảo như gánh nước.
Ông tâm sự: - Gánhđất và gánh nước mỗi cái có nỗi vất vả riêng. Nếu gánh nước thì sợ nhấtlà làm đổ, chỉ chờ nước đổ là những hòn đá đang bị nung đỏ kia hút xèomột cái là hết. Còn đất, lỡ có té mà đổ thì vẫn xúc lại được, nhưng chỉcó điều, mang được lên đây đổ vào những hốc đá, sau mỗi trận mưa nướclại rửa sạch. Nhìn nước mưa đục ngàu mà xót đứt ruột.
Cứthế dưới chân thì đá đang hun lửa, còn bên trên thì nắng chói chang nhưsuối nóng đang rót xuống chiếc lưng trần, ông miệt mài mấy chục năm“cõng” nước “cõng” đất ra đảo hoang trồng cây, xây chùa.
Tôi hỏi ông - Ở đảo thì sợ nhất điều gì?
Ông cười hiền hậu: - Ởđảo sợ nhất là những ngày mưa bão, bởi lúc đó đảo sẽ bị cô lập với đấtliền. Ngày mới ra đây, có lần biển động đảo hết lương thực, thầy đànhmen theo mép nước nhặt những cành rong bị sóng đánh văng lên để ăn. Rongsống ăn đắng và tanh rất khó nuốt nhưng nó lành, có thể dùng thay cơmđược lâu. Rồi cũng có lần biển động, lúc thầy đang ra đảo. Chẳng cóthuyền chỉ có tấm xốp làm phao mà thầy bị sóng cuốn đi vật lộn hai ngàyhai đêm trên biển rồi mới được thuyền cứu giúp.
- Gian khổ là vậy, nguy hiểm là vậy có khi nào thầy nghĩ mình sẽ bỏ cuộc không?
Vị sư già hướng đôi mắt ra phía biển xa xa: Laođộng cũng là một hình thức tu hành, qua lao động thầy ngộ ra được nhiềuthứ. Thiên nhiên không bao giờ vô tình nếu con người hữu tình.
Ngướclên tán bằng lăng đang nở hoa tím biếc, thành phố Nha Trang hiện đại mờmờ phía xa. Tôi chợt nhớ, buổi sáng trên thuyền ra đây tôi thấy ngườita đang cho đổ đất, đá nhằm “lấp biển” với tham vọng nối Hòn Đỏ với đấtliền. Tuyến đường toàn những đá hộc ngổn ngang như cánh tay tham lam củanhững con người “văn minh” muốn thâu tóm lấy hòn đảo nhỏ này.
Ngàynay người ta hay nhắc đến “kết nối” nhưng sự “kết nối” này là hoàn toànkhông cần thiết. Xin hãy để Hòn Đỏ là viên ngọc xanh trên biển trênthay vì biến nó thành mũi đất tẻ nhạt trên bờ. Và xin hãy để tiếngchuông chùa mỗi sớm mai hòa cùng tiếng sóng, tiếng gió cầu siêu chonhững con người đi biển mãi mãi không trở về, thay vì để nó bị lấn átbởi nhưng âm thanh xô bồ của cuộc sống trong kia.
Theo Pháp luật Việt Nam
TIN LIÊN QUAN
NỔI BẬT CHUYÊN MỤC
