Cả cuộc đời cống hiến cho nền khoa học nước nhà, Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Ngô Kiều Nhi luôn đau đáu với trách nhiệm của một người trí thức trước Nhân dân, kiên trì con đường khoa học gắn liền thực tiễn, đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư và nhà nghiên cứu cho đất nước.
Người mở đường cho máy cân bằng động "Made in Vietnam"
Trong những năm 1990, giữa bối cảnh đất nước còn muôn vàn khó khăn, GS Ngô Kiều Nhi đã trở thành cái tên được nhiều người biết đến trong giới khoa học với hàng loạt công trình mang tính ứng dụng thực tiễn cao. Trong đó, dấu ấn đậm nét nhất của bà chính là dự án máy cân bằng động, một thiết bị kỹ thuật cao vốn chỉ có số ít quốc gia trên thế giới thời bấy giờ có thể chế tạo.
Động lực thôi thúc GS Ngô Kiều Nhi thực hiện sản phẩm "Made in Vietnam" xuất phát từ thực tế hải tặc hoành hành trên biển nhưng tàu của Cảnh sát biển Việt Nam khó lòng đuổi kịp vì bánh lái không thể quay đủ nhanh. Nếu tăng tốc, sự mất cân bằng của các chi tiết máy sẽ gây rung lắc dữ dội, dẫn đến nguy cơ lật tàu. Với mong muốn giúp ích cho nền kinh tế và xã hội, bà đã quyết tâm tự tay nghiên cứu và chế tạo thiết bị đo lực rung động cho các chi tiết quay nhanh trên máy bay, tàu thủy và ô tô.
Qua bao nhiêu khó khăn, năm 1992, một nhà máy xuất khẩu phụ tùng ô tô đã chấp nhận cho bà thử nghiệm máy cân bằng động lên các sản phẩm vô-lăng và bánh đà. Thành công bước đầu này là "đòn bẩy" để bà mạnh dạn đưa nghiên cứu đi chào hàng tại các đơn vị sản xuất.
Sau đó, máy cân bằng động nhanh chóng được ứng dụng trong thực tế, tiêu biểu như việc cân bằng tuốc bin máy bay tại xưởng sửa chữa A41 thuộc sân bay Tân Sơn Nhất. Từ đây, công nghệ “made in Vietnam” bắt đầu khẳng định vị thế trong lĩnh vực cơ khí chính xác.
Ngày nay, các máy cân bằng động do GS Ngô Kiều Nhi nghiên cứu và phát triển đã được triển khai rộng rãi tại nhiều cơ sở sản xuất. So với sản phẩm nhập khẩu, thiết bị trong nước không chỉ có giá thành cạnh tranh hơn mà còn đáp ứng tốt yêu cầu kỹ thuật, góp phần giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài và nâng cao năng lực công nghệ nội địa.
'Hãy trân trọng từng đồng tiền thuế của người dân bỏ ra cho chúng ta nghiên cứu…'
GS Ngô Kiều Nhi sinh năm 1945 tại Sài Gòn. Bà là con gái của Bộ trưởng Bộ Canh nông Ngô Tấn Nhơn. Sau năm 1954, bà cùng gia đình tập kết ra Bắc. Sau khi tốt nghiệp trung học, bà được cử sang Liên Xô học đại học ngành Động lực học và máy, lĩnh vực tưởng chỉ dành cho nam giới, rồi được đào tạo tiếp lên tiến sĩ kỹ thuật, tốt nghiệp năm 1975. Cứ vậy, máy móc, cơ khí hay tự động hóa đã gắn bó với cuộc đời như duyên nợ.
Tới cuối năm 1975, bà được cử về công tác tại Trường ĐH Kỹ thuật (thành viên của Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức), nơi sau này là Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TPHCM).
Khi trở về quê hương, bà ý thức được trách nhiệm lớn lao của người trí thức đã được tạo điều kiện đi ăn học, là phải thực hiện mong mỏi của những người đã hy sinh, phải góp phần mình trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.
Thời điểm đó, đất nước vừa trải qua chiến tranh, đòi hỏi phải phục hồi sản xuất khẩn cấp. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh bế quan tỏa cảng, các nhà máy xí nghiệp đều rơi vào tình trạng đình trệ do thiếu thốn vật tư, trang thiết bị và phụ tùng thay thế. Trăn trở trước thực tế này, GS Ngô Kiều Nhi bắt đầu chuỗi ngày miệt mài trong phòng thí nghiệm để tìm cách tạo ra các sản phẩm hữu ích nhất cho cuộc sống của người dân.
Bên cạnh công tác nghiên cứu, GS Ngô Kiều Nhi cùng các đồng nghiệp thời kỳ đó còn gánh vác một trọng trách lớn lao: chấn hưng lại hệ thống giáo dục đại học tại TP HCM và miền Nam. “Lúc ấy, chúng tôi không có sự chọn lựa mà chỉ có một quyết tâm”, bà chia sẻ. Quyết tâm ấy gắn với lựa chọn gắn bó lâu dài với giáo dục và nghiên cứu trong bối cảnh đất nước còn bộn bề tái thiết.
Dạy học không có micro với giảng đường mênh mông hàng trăm sinh viên, giọng bà thì nhỏ, bà phải cố gắng thật nhiều để các sinh viên hiểu bài. Tài liệu, giáo trình còn chưa có, bà đã tổ chức cả các lớp phụ đạo cuối tuần hoặc buổi tối tại nhà mình để giúp các bạn sinh viên hiểu bài và thực hiện đề án một cách chính xác nhất.
“Chúng tôi còn phải đi nhặt từng cọng dây điện, từng con ốc để làm thí nghiệm vì lúc đó đất nước bị bế quan tỏa cảng, các nhà máy xí nghiệp còn không có vật liệu sản xuất thì làm sao trường đại học có dụng cụ để có thể thực tập, thực hành…”, bà nhớ lại.
Với sự nỗ lực của cả tập thể giảng viên và sinh viên mà những khó khăn đó đã đi qua. Trường ĐH Bách khoa trở thành trường đại học đầu tiên của Việt Nam đào tạo ngành Cơ Kỹ thuật. Ngành học này đồng thời đóng vai trò cầu nối giữa khoa học cơ bản và ứng dụng công nghệ, mở đường cho nhiều lĩnh vực kỹ thuật sau này.
GS Ngô Kiều Nhi luôn thể hiện quan điểm, nghiên cứu khoa học phải ưu tiên hàm lượng tri thức và tính thực tiễn hơn là số lượng. "Hãy trân trọng từng đồng tiền thuế của người dân bỏ ra cho chúng ta nghiên cứu", bà chia sẻ và khẳng định những gì để lại cho đời quan trọng hơn mọi danh hiệu thi đua.
Ở tuổi 80, GS Ngô Kiều Nhi vẫn bền bỉ giảng dạy bậc cao học, hướng dẫn nghiên cứu sinh và viết giáo trình. Bà luôn truyền lửa cho thế hệ trẻ rằng nghiên cứu phải xuất phát từ sự sâu sát thực tiễn, giải quyết được bài toán khó của người dân và sản phẩm phải được xã hội chấp nhận thông qua chuyển giao công nghệ, hợp đồng kinh tế chứ không thể chỉ nằm trên giấy hay dùng để trưng bày. Và hãy luôn giữ cho mình niềm say mê nghiên cứu khoa học. Lãnh đạo các trường đại học cũng cần có biện pháp khuyến khích cán bộ, giảng viên, làm việc bằng cả đam mê.
GS Ngô Kiều Nhi đã được trao Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2005 cho công trình “Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo một số thiết bị đo lường và điều khiển phục vụ sản xuất” do Chủ tịch nước trao tặng; Giải ba Hội thi Sáng tạo khoa học – công nghệ Việt Nam năm 2000 với công trình “Chế tạo máy cân bằng động và chế tạo bộ điều khiển cho máy công cụ”. Đặc biệt, năm 2002 bà được trao Giải thưởng quốc tế Kovalevskaia – giải thưởng danh giá tôn vinh các nhà khoa học nữ có đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và ứng dụng khoa học – công nghệ.