Những giếng nước bí ẩn của tiền nhân đảo Hoàng Sa

Lý Sơn (Quảng Ngãi) có nhiều giếng nước mang truyền thuyết cảm động về người lính Hoàng Sa và công cuộc bảo vệ biển đảo của các bậc tiền nhân.

“Vong hồn” lính ban nước cho giếng Tiền
Tương truyền, ngày xưa trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) rất khó đào giếng. Bởi một lẽ đơn giản, vùng đất đảo này được hình thành từ sự phun trào nham thạch dữ dội của 5 ngọn núi lửa.
Thế nhưng, khi vua Gia Long đích thân đứng ra sai quân đào đất nặn hình nhân chiêu hồn cho những người con đảo Lý Sơn, là những chiến binh trong hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải hy sinh khi đi làm nhiệm vụ tại vùng biển Hoàng Sa đã tạo ra 1 giếng nước có tên là giếng Tiền nằm ở thôn Tây, xã An Vĩnh.
Ngày đó, vua Gia Long đã đích thân ra tận đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) để làm lễ chiêu hồn cho các tử sĩ của cai đội Phạm Quang Ảnh hy sinh khi đi làm nhiện vụ tại Hoàng Sa. Lần đó, ông còn đưa theo một thầy phong thủy giỏi nhất thời bấy giờ đi cùng để làm lễ chiêu hồn cho 25 tử sĩ nhập vào 25 hình nhân được làm bằng đất sét trước khi an táng dưới những nấm mộ cát.
Ngọn Meo nơi có giếng Tiền.
 Ngọn Meo nơi có giếng Tiền.
Đó là sự khởi đầu cho tập tục truyền thống khao lề thế lính Hoàng Sa mà người dân đảo Lý Sơn gìn giữ suốt 200 năm qua (16 tháng Ba âm lịch hằng năm).
Lễ khao lề thế lính kéo dài suốt mấy ngày với thuyền cúng, cờ, linh vị và các hình nhân được nặn bằng đất sét. Trong thuyền cúng có đầy đủ mọi thứ như củi, muối, gạo, mắm…; những thứ mà người lính hải đội Hoàng Sa ngày xưa thường mang theo trong chuyến đi biển. Con thuyền chở lễ cúng ấy được đưa ra khơi, cho trôi tự do trên biển Đông.
Theo những lão niên ở đảo Lý Sơn kể lại, khi đó, ở Lý Sơn rất thiếu nước ngọt, người dân đào giếng mãi nhưng không có nước. Ông thầy phù thủy đi theo vua Gia Long ra Lý Sơn làm lễ chiêu hồn cho lính Hoàng Sa đã mượn lệnh vua sai nhân dân địa phương đi lên 1 ngọn núi đào tìm đất sét để mang về nặn hình nhân.
Thật bất ngờ, giữa quả núi chỉ có cát trắng và đá tảng này lại có một địa điểm có đầy đất sét, những người dân đào đất ai nấy đều kinh ngạc. Và còn huyền bí hơn nữa, sau khi dân công đào đủ lượng đất sét để nặn 25 hình nhân tượng trưng cho 25 lính Hoàng Sa vừa hy sinh thì cái hố ấy bỗng tuôn ra mạch nước ngọt, hình thành nên cái giếng, đặt tên là giếng Tiền.
Cái giếng linh thiêng ấy được người dân đảo Lý Sơn sử dụng từ đó đến nay. Đặc biệt, giếng Tiền quanh năm đầy ắp nước, nước trong vắt.
“Các tiền nhân của người dân đảo Lý Sơn cho rằng, 25 người lính Hoàng Sa được vua Gia Long làm lễ chiêu hồn lần ấy dù đã chết nhưng lòng vẫn còn hướng về quê hương bản quán, đã phù hộ đào nên một cái giếng nước ngay trên ngọn núi lửa để cho dân đảo dùng”, ông Nguyễn Ân (82 tuổi) ở khu 6, thôn Tây xã An Vĩnh, nói.
Cũng theo các cao niên ở đảo Lý Sơn, sau khi đào được giếng Tiền, người dân địa phương thời ấy còn phát hiện trên ngọn núi đào giếng Tiền có nhiều vùng đất đỏ, trông tựa như đất bazan ở Tây Nguyên.
Về sau này, khi người dân đảo Lý Sơn phát triển nghề trồng hành, tỏi thì lên núi giếng Tiền lấy nguồn đất đỏ ấy về làm lớp đất mặt để SX. Chính chất đất được sinh ra trên miệng núi lửa đã làm nên hương vị đặc biệt cho tỏi Lý Sơn, nâng nó lên thành món hàng đặc sản nức tiếng cả nước.
Cũng tại miệng núi lửa giếng Tiền, có một khoảng đất nhỏ, dù là đất đỏ nhưng lại không một loài cây cỏ nào mọc được. Trong suy nghĩ của người dân Lý Sơn, đây chính là vùng đất thiêng, đất tinh khiết nhất nên người xưa thường lấy về làm hình nhân cho những ngôi mộ gió mỗi khi có chiến sĩ của đội hải binh Hoàng Sa hy sinh từ thời vua Minh Mạng.
Đường hầm bí ẩn
Ngoài những cái giếng nổi danh như giếng Tiền hay giếng Xó La (còn gọi là giếng Vua), ở Lý Sơn còn tồn tại một giếng cổ hơn 200 tuổi ẩn chứa trong lòng giếng những huyền bí đến giờ chưa ai giải thích được. Đó là một cái giếng trông vẻ ngoài bình thường như bất cứ một cái giếng nước nào khác đang nằm trong vườn nhà của cụ Phạm Thị Tồn (85 tuổi) ở khu dân cư số 3, thôn Đông xã An Hải.
Lúc tôi đến, cụ Phạm Thị Tồn đang xách nước từ cái giếng nói trên để tưới cây trong vườn. Dù đã cao niên nhưng trông cụ Tồn vẫn khỏe khoắn, minh mẫn. Vừa xách nước, cụ tồn vừa kể: “Lúc tui về làm dâu nhà này, ông nội chồng của tui bảo là cái giếng đã có thời ông cố, ông sơ, tính đến nay đã hơn 200 năm.
Ở dưới lòng giếng, phía tui đang đứng có một cái hầm rất rộng thông ngang về hướng chùa. Có một năm nước cạn, mấy đứa nhỏ trong xóm qua vườn nhà tui chạy chơi nghịch ngợm, khi ấy giếng chưa có thành nên nhiều đứa chạy lọt xuống đó, phát hiện dưới lòng giếng có cái hang”.
Một người đàn ông trong làng tên Phan Thanh Tâm (63 tuổi) xác nhận: “Hồi còn nhỏ, tụi tui hay đến nhà bà Tồn chơi với thằng bạn cùng lứa tên Trần Dự, con trai cả của bà. Lúc đó, cái giếng chưa có bờ thành nên nhiều khi bọn tui chạy lỡ trớn lọt luôn xuống giếng.
Cụ Phạm Thị Tồn bên giếng Tiền.
Cụ Phạm Thị Tồn bên giếng Tiền.
Khi thấy trong lòng giếng có cái hầm rộng nên tò mò chui vô xem thử, nhưng chỉ dám vô một đoạn là bọn tui tháo lui vì nó tối om và sâu hun hút, sợ lắm. Nghe đâu nó chứa được cũng cả trăm người chứ chẳng chơi đâu”.
Con trai cả của cụ Tồn, ông Trần Dự (63 tuổi) cho biết thêm: Bán kính giếng khoảng 0,3 m, chiều sâu của cái giếng tính từ đáy lên trên mặt đất chưa tới 5 m, xung quanh được xây bằng đá vôi nay đã phủ đầy rêu.
Giếng có mạch nước rất mạnh, đến 3 - 4 ụn vòi. Ở dưới đáy giếng tạo thành cái hầm rộng. Cái hầm dưới lòng giếng tuy rộng có thể chứa được cả trăm người trưởng thành nhưng thấp, phải đứng ở tư thế đứng khom người mới được.
Đó là chuyện của cách đây mấy chục năm, còn bây giờ thì cái hầm trong lòng giếng đã thu hẹp do đất lở lấp lại. Lần ông Dự xuống gần đây nhất để đặt lại vòi rồng máy bơm nước cũng gần chục năm. Lúc đó, ông định chui vô để xem lại nhưng thấy đất lở nhiều quá nên sợ. Từ đó đến nay chưa có ai xuống giếng cả.
“Hồi đó cái hang nằm cao hơn so với mặt nước nên bọn tui thường hay leo xuống để chui vô đó chơi năm mười. Có những lần tui bị ông bà già dọa đánh đòn cũng xuống đó để trốn. Còn bây giờ thì nước giếng lấp luôn miệng hang nên không thể vô được”, ông Dự nói.
Có truyền thuyết cho rằng, cái giếng này được đào cùng với một đường hầm để làm lối đi lại cho một nhà sư đi về chùa Hang. Đó là lý do vì sao mà cái hầm trong lòng giếng hướng về phía chùa Hang.
Hơn nữa, hiện gia đình ông Dự cũng đang giữ những giấy tờ liên quan đến chùa Hang và trông coi ngôi chùa này. Cũng có truyền thuyết cho rằng, cái hầm trong lòng giếng là một trong những con đường quân sự của cư dân đảo Lý Sơn ngày ấy đào để phục vụ việc quân trong nhiệm vụ bảo vệ đất đảo.

Hành trang đặc biệt của Hải đội Hoàng Sa xưa

(Kiến Thức) - 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán…là những vật bất ly thân của quân binh Hải đội Hoàng Sa xưa.

Theo sử cũ ghi chép, dưới thời các Chúa Nguyễn sau đó là các vua triều Nguyễn, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải làm nhiệm vụ đi thuyền đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thu lượm sản vật, cắm mốc chủ quyền. Ngày nay, tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) vẫn còn lưu giữ lại những hành trang năm xưa mang theo và có một “khu mộ gió” quân binh sừng sững giữa đảo. Trong ảnh là nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Công trình mô phỏng kiến trúc truyền thống với bộ mái cùng trang trí kiểu thời Nguyễn được hoàn thành tháng 1/2010. Nơi đây trưng bày những hiện vật, tài liệu về hoạt động của Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.
 Theo sử cũ ghi chép, dưới thời các Chúa Nguyễn sau đó là các vua triều Nguyễn, nhà nước phong kiến Việt Nam đã thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải làm nhiệm vụ đi thuyền đến các đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thu lượm sản vật, cắm mốc chủ quyền. Ngày nay, tại huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) vẫn còn lưu giữ lại những hành trang năm xưa mang theo và có một “khu mộ gió” quân binh sừng sững giữa đảo. Trong ảnh là nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải. Công trình mô phỏng kiến trúc truyền thống với bộ mái cùng trang trí kiểu thời Nguyễn được hoàn thành tháng 1/2010. Nơi đây trưng bày những hiện vật, tài liệu về hoạt động của Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải.
Việc thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải là minh chứng lịch sử khẳng định trung thực nhất nhà nước phong kiến Việt Nam trong công cuộc chinh phục biển Đông, gây dựng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong ảnh là mô hình thuyền câu dùng để đi biển của Hải đội Hoàng Sa (do nghệ nhân Võ Hiển Đạt - xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn phục chế).
 Việc thành lập các Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải là minh chứng lịch sử khẳng định trung thực nhất nhà nước phong kiến Việt Nam trong công cuộc chinh phục biển Đông, gây dựng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong ảnh là mô hình thuyền câu dùng để đi biển của Hải đội Hoàng Sa (do nghệ nhân Võ Hiển Đạt - xã An Vĩnh, huyện Lý Sơn phục chế).
Trải qua nhiều thế kỉ, đã có rất nhiều võ quan, binh lính thừa lệnh triều đình hi sinh khi đi làm nhiệm vụ giong thuyền đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thu lượm sản vật, trồng cây, cắm mốc, dựng bia chủ quyền của nước ta với các quần đảo này. Trong ảnh là nghi thức lễ cuối cùng tại lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là dẫn đoàn thuyền có hình nhân thế mạng ra khơi, tái hiện lại chuyến đi của quân binh khi xưa.
 Trải qua nhiều thế kỉ, đã có rất nhiều võ quan, binh lính thừa lệnh triều đình hi sinh khi đi làm nhiệm vụ giong thuyền đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thu lượm sản vật, trồng cây, cắm mốc, dựng bia chủ quyền của nước ta với các quần đảo này. Trong ảnh là nghi thức lễ cuối cùng tại lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là dẫn đoàn thuyền có hình nhân thế mạng ra khơi, tái hiện lại chuyến đi của quân binh khi xưa. 
Theo ghi chép trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn năm 1776 (từng làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa thế kỷ XVIII) kể rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh (xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn ngày nay) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch...
 Theo ghi chép trong “Phủ biên tạp lục” của Lê Quý Đôn năm 1776 (từng làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa thế kỷ XVIII) kể rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh (xã An Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn ngày nay) bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch...
..Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa. Ảnh: Nghi thức xuất quân đi Hoàng Sa được tái hiện.
 ..Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa. Ảnh: Nghi thức xuất quân đi Hoàng Sa được tái hiện. 
Họ tha hồ lượm nhặt, tự ý bắt chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ nhặt được những đồ như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ngà voi...do các tàu buôn bị đắm và trôi dạt vào đảo. Ảnh: Nghi thức xuất quân đi Hoàng Sa.
 Họ tha hồ lượm nhặt, tự ý bắt chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ nhặt được những đồ như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ngà voi...do các tàu buôn bị đắm và trôi dạt vào đảo. Ảnh: Nghi thức xuất quân đi Hoàng Sa. 
Trong “Đại Nam thực lục chính biên” do các sử thần trong quốc sử quán biên soạn có ghi chép, Hải đội Hoàng Sa còn kiêm quản cả đội Bắc Hải cùng làm nhiệm vụ ở Trường Sa và các đảo phía trong Nam. Đặc biệt, đội Hoàng Sa còn làm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, canh chừng giặc biển, dựng bia chủ quyền và giữ gìn các hải đảo Hoàng Sa.
 Trong “Đại Nam thực lục chính biên” do các sử thần trong quốc sử quán biên soạn có ghi chép, Hải đội Hoàng Sa còn kiêm quản cả đội Bắc Hải cùng làm nhiệm vụ ở Trường Sa và các đảo phía trong Nam. Đặc biệt, đội Hoàng Sa còn làm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, canh chừng giặc biển, dựng bia chủ quyền và giữ gìn các hải đảo Hoàng Sa.
Trường Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi/ Trường Sa lắm đảo, nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây. Đó là những câu ca của người dân trên đảo Lý Sơn truyền tụng về những hiểm nguy, khó khăn gian khổ của người lính đi Hoàng Sa, Trường Sa thi hành nhiệm vụ khi ấy. Ảnh: Mỗi lần tế thần, danh sách những người lính đi Hoàng sa luôn được vinh danh để con cháu tưởng nhớ, tri ân.
 Trường Sa đi có về không/ Lệnh vua sai phải quyết lòng ra đi/ Trường Sa lắm đảo, nhiều cồn/ Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây. Đó là những câu ca của người dân trên đảo Lý Sơn truyền tụng về những hiểm nguy, khó khăn gian khổ của người lính đi Hoàng Sa, Trường Sa thi hành nhiệm vụ khi ấy. Ảnh: Mỗi lần tế thần, danh sách những người lính đi Hoàng sa luôn được vinh danh để con cháu tưởng nhớ, tri ân. 
Với những người lính khi thành lập đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, lệnh vua ban xuống không chỉ là lệnh mà còn là tấm lòng, ý chí quyết tâm ra đi vì đất nước. Ảnh: Những sắc phong, chỉ dụ của nhà Nguyễn cho Hải đội Hoàng Sa.
  Với những người lính khi thành lập đội hùng binh Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, lệnh vua ban xuống không chỉ là lệnh mà còn là tấm lòng, ý chí quyết tâm ra đi vì đất nước. Ảnh: Những sắc phong, chỉ dụ của nhà Nguyễn cho Hải đội Hoàng Sa.

Trong chuyến hải trình dài ngày đến Hoàng Sa, Trường Sa, người lính đã biết là sẽ gặp hiểm nguy do sóng to, gió lớn rình rập, hoặc những nguyên nhân nào khác thì cũng sẽ lấy lòng biển khơi làm nơi mai táng mình. Ảnh: Ông Nguyễn Cậu, trưởng làng An Vĩnh, đánh trống xuất quân hùng binh Hoàng Sa.
 Trong chuyến hải trình dài ngày đến Hoàng Sa, Trường Sa, người lính đã biết là sẽ gặp hiểm nguy do sóng to, gió lớn rình rập, hoặc những nguyên nhân nào khác thì cũng sẽ lấy lòng biển khơi làm nơi mai táng mình. Ảnh: Ông Nguyễn Cậu, trưởng làng An Vĩnh, đánh trống xuất quân hùng binh Hoàng Sa. 
Ngoài những vật dụng cần thiết mang theo để sống cho chuyến đi, mỗi quân binh của Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn chuẩn bị cho mình 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán. Ảnh: Dây mây đội quân binh Hoàng Sa mang theo để đồng đội bó xác nếu hi sinh trên biển.
 Ngoài những vật dụng cần thiết mang theo để sống cho chuyến đi, mỗi quân binh của Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn chuẩn bị cho mình 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán. Ảnh: Dây mây đội quân binh Hoàng Sa mang theo để đồng đội bó xác nếu hi sinh trên biển.
Nếu trong chuyến đi, chẳng may qua đời thì các đồng đội sẽ dùng manh chiếu bó thi hài và thẻ bài làm một, dùng 7 nẹp tre kẹp lại rồi lấy 7 sợi dây mây buộc chặt. Sau vài nghi lễ giản đơn, thi hài được thả xuống biển. Ảnh: 7 nẹp tre để nẹp thi hài đồng đội.
 Nếu trong chuyến đi, chẳng may qua đời thì các đồng đội sẽ dùng manh chiếu bó thi hài và thẻ bài làm một, dùng 7 nẹp tre kẹp lại rồi lấy 7 sợi dây mây buộc chặt. Sau vài nghi lễ giản đơn, thi hài được thả xuống biển. Ảnh: 7 nẹp tre để nẹp thi hài đồng đội. 
Tất cả đồng đội đều cúi đầu gửi nguyện ước lên trời xanh rằng thi hài đã mất sẽ trôi dạt vào bờ để người dân biết tên họ, quê quán người hi sinh vì nước mà chôn cất. Ảnh: Đôi chiếu mang theo để bó thi hài.
 Tất cả đồng đội đều cúi đầu gửi nguyện ước lên trời xanh rằng thi hài đã mất sẽ trôi dạt vào bờ để người dân biết tên họ, quê quán người hi sinh vì nước mà chôn cất. Ảnh: Đôi chiếu mang theo để bó thi hài. 
Ngày nay, tại nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn lưu giữ những hành trang năm xưa quân binh mang theo. Đó là 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán. Hành trang đó như để khẳng định một tấm lòng, một tinh thần cảm tử quyết tâm ra đi của những hùng binh khi ấy. Ảnh: Bài vị khắc tên họ, quê quán của các quân binh Hoàng Sa, Bắc Hải. (Ảnh: Tam Hiệp - Hà Kiều).
 Ngày nay, tại nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa, Bắc Hải còn lưu giữ những hành trang năm xưa quân binh mang theo. Đó là 1 đôi chiếu, 7 nẹp tre, 7 sợi dây mây, 1 thẻ bài khắc tên họ, quê quán. Hành trang đó như để khẳng định một tấm lòng, một tinh thần cảm tử quyết tâm ra đi của những hùng binh khi ấy. Ảnh: Bài vị  khắc tên họ, quê quán của các quân binh Hoàng Sa, Bắc Hải. (Ảnh: Tam Hiệp - Hà Kiều). 

Những lăng tẩm vua chúa nổi tiếng nhất Trung Quốc

(Kiến Thức) - Mộ phần của Tần Thủy Hoàng, Võ Tắc Thiên... là những lăng mộ vua chúa nổi tiếng nhất lịch sử Trung Quốc.

Lăng mộ của Tần Thủy Hoàng ở Tây An là một trong những lăng mộ lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất ở Trung Quốc. Theo ước tính, khoảng 700.000 công nhân từ khắp các tỉnh thành ở Trung Quốc thời xưa đã tham gia quá trình xây dựng lăng mộ kể từ khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế đến khi ông qua đời.
Lăng mộ của Tần Thủy Hoàng ở Tây An là một trong những lăng mộ lớn nhất và được bảo tồn tốt nhất ở Trung Quốc. Theo ước tính, khoảng 700.000 công nhân từ khắp các tỉnh thành ở Trung Quốc thời xưa đã tham gia quá trình xây dựng lăng mộ kể từ khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế đến khi ông qua đời. 

Lính TQ chạm mặt binh sĩ Nga ở vùng biên giới 1933-1939

(Kiến Thức) - Đó là những bức ảnh đen trắng chụp từng nhóm binh sĩ Trung Quốc làm nhiệm vụ ở vùng biên giới đã nhiều lần chạm mặt binh sĩ Nga vào năm 1933-1939.

Vào thời điểm tình hình giữa Nga và Trung Quốc xảy ra căng thẳng, binh sĩ làm nhiệm vụ ở vùng biên giới giữa hai quốc gia thường xuyên tổ chức tuần tra dọc biên giới.
Vào thời điểm tình hình giữa Nga và Trung Quốc xảy ra căng thẳng, binh sĩ làm nhiệm vụ ở vùng biên giới giữa hai quốc gia thường xuyên tổ chức tuần tra dọc biên giới.

Đọc nhiều nhất

Tin mới