Mảng đề tài về vũ khí - trang bị của các bên trong Chiến tranh thế giới thứ hai luôn là một đề tài hấp dẫn với bạn đọc, đặc biệt là đề tài về các tàu ngầm và hạm nổi của hải quân. Kiến thức xin được giới thiệu với bạn đọc chùm bài về lực lượng tàu chiến mặt nước của hải quân Đức Quốc xã - một lực lượng từng là nỗi kinh hoàng của quân Đồng Minh trên đại dương. Bài viết có tham khảo tư liệu từ nhiều nguồn, đặc biệt là cuốn sách Warships No.23 - German Battleships of World War Two in action của tác giả Robert C.Stern.
Kì 1: Quá trình thiết kế và những thông số trang bị kĩ thuật
Các thiết giáp hạm lớp Scharnhorst và Gneisenau (người Đức gọi là thiết giáp hạm, còn người Anh gọi là tuần dương hạm chiến đấu) ban đầu được dự định là một phiên bản cải tiến đôi chút của lớp Deutschland, với những thông số cơ bản như tốc độ, vũ khí và bảo vệ gần như tương đương nhau.
Tuy nhiên, sự đáp trả một cách thái quá của hải quân Đồng Minh - đặc biệt là việc Pháp cho đóng các thiết giáp hạm lớp Dunkerque năm 1931 - càng khiến các chỉ huy Hải quân Đức (Reichsmarine) có căn cứ để cho rằng những tàu chiến lớp Deutschland sẽ chỉ có hiệu quả nhất định trong những trận hải chiến sắp đến. Do vậy, việc đóng nốt hai tàu còn lại trong loạt năm tàu Deutschland mà vẫn giữ nguyên thiết kế cũ sẽ thật là xuẩn ngốc.
Việc đảng Quốc xã lên nắm quyền năm 1933 là cơ sở để Reichsmarine đưa ra đề xuất nâng cao tính năng kĩ chiến thuật của hai tàu sắp đóng trên mọi phương diện, thể hiện rõ ràng việc xé bỏ hoàn toàn Hiệp ước Versailles với giới hạn 10.000 tấn.
Các tàu sắp đóng sẽ nhanh hơn với tốc độ thiết kế 32 hải lí trên giờ, được vũ trang mạnh hơn với 9 pháo 280mm, được bảo vệ tốt hơn với lớp giáp thân tàu nơi dày nhất lên đến 380mm, và hai sàn boong bọc thép thay vì một như trước đây. Hitler đã có chút dao động, ban đầu ông ta chấp nhận mọi kiến nghị của hải quân, ngoại trừ việc bổ sung thêm tháp pháo thứ ba, và nhấn mạnh rằng lượng giãn nước của tàu phải dưới 20.000 tấn.
Hải quân Đức đã mất một năm để thuyết phục Hitler rằng tháp pháo thứ ba là cần thiết, và nên từ bỏ mọi sự giả vờ tôn trọng những giới hạn của Hiệp ước đi. Hitler chấp thuận thiết kế hai tàu mới này vào năm 1934, với lượng giãn nước dự kiến là 26.000 tấn, dù rằng thiết kế tàu trước khi đóng đã từng lên đến 34.000 tấn. Lượng giãn nước toàn tải dự kiến sẽ là 39.000 tấn.
 |
| Thiết giáp hạm Scharnhorst |
Ban đầu, thiết kế con tàu được thai nghén với vai trò ngăn chặn thương mại giống như lớp Deutschland, nên Scharnhorst được dự định sẽ sử dụng động cơ diesel. Lượng giãn nước của tàu tăng mạnh dẫn đến nhu cầu về động lực, đòi hỏi động cơ phải có công suất trên 160.000 mã lực, gấp hơn ba lần lớp Deutschland. Điều đó khiến cho việc sử dụng động cơ diesel là không thể, căn cứ trên kích cỡ và trọng lượng của nó. Tàu chiến lớp Scharnhorst đã được trang bị turbine hơi nước áp suất cao, truyền động qua ba trục. Tàu Gneisenau gia nhập biên chế ngày 21/05/1938, sau đó là tàu Scharnhorst ngày 07/01/1939.
 |
| Thiết giáp hạm Gneisenau chụp cuối năm 1938 với hai máy phóng thủy phi cơ. Ở máy phóng phía trước là một thủy phi cơ Heinkel He-114, còn máy phóng phía sau là một chiếc Arado Ar-95. |
Nhìn chung, thiết giáp hạm lớp Scharnhorst không phù hợp với quan niệm đương thời về sức mạnh hải quân, thậm chí là còn hơn cả các tàu chiến lớp Deutschland. Chúng có tốc độ cao và khả năng bảo vệ khá tốt, nhưng hỏa lực thì thật sự không phù hợp với kích cỡ. Bất chấp những nỗ lực được dồn vào quá trình thiết kế và đóng tàu, những chiếc Scharnhorst hầu như không thể đối đầu trực tiếp với những thiết giáp hạm đương thời. Chúng hầu như chỉ hiệu quả trong vai trò săn lùng tàu buôn để ngăn chặn thương mại.
Vào năm 1934, đã có một cuộc tranh luận về việc có nên thay thế các pháo 280mm bằng một số nhỏ hơn các pháo 380mm hay 406mm, nhưng lúc bấy giờ không có loại pháo thích hợp như yêu cầu. Ước tính quá trình thiết kế, thử nghiệm và chế tạo các kết cấu phần cứng cần thiết của lớp đã làm chậm thời gian đặt lườn lớp Scharnhorst thêm hai năm.
Thêm vào đó, Hitler không muốn làm mất lòng người Anh, vì hai nước đang trong quá trình đàm phán Hiệp ước Hải quân Anh - Đức năm 1935, nên mọi thiết kế với pháo cỡ nòng lớn hơn đều bị bác bỏ. Do đó, khi tàu Gneisenau bị phá hủy nặng nề đầu năm 1942, con tàu đã được sửa chữa và nâng cấp với tháp pháo giống hệt như của thiết giáp hạm Bismarck. Phần trước của tàu Gneisenau được mở rộng và kéo dài thêm 10m để gia tăng sức nổi và khôi phục lại sự cân bằng của tàu khi trọng lượng tăng thêm về phía trước. Điều này đã làm tăng chiều dài tổng thể của tàu từ 234,9m lên 244,9m. Trong bất cứ trường hợp nào, sự tỉnh táo luôn thắng thế và việc tình hình chiến trường xấu đi đã ngăn chặn bất cứ sự tiến triển nào của công việc, ngoại trừ việc thay thế phần mũi cánh cung của tàu Gneisenau.
Mỗi tàu chiến lớp Scharnhorst có 12 nồi hơi cao áp đốt dầu Wagner, ba hệ truyền động cho ba chân vịt. Turbine của tàu Scharnhorst được chế tạo bởi Brown-Boveri, còn của tàu Gneisenau được chế tạo bởi Germania. Hệ thống này cho công suất thiết kế 165.000 mã lực, và tốc độ tối đa 32 hải lí mỗi giờ, nhưng trên thực tế thì con số này có giảm chút ít. Công suất thực tế của tàu là xấp xỉ khoảng 160.000 mã lực, và tốc độ tối đa là 31 hải lí trên giờ. Dự trữ hành trình của tàu là 8.800 hải lí tại tốc độ 19 hải lí trên giờ, và tăng lên 10.000 hải lí tại tốc độ 17 hải lí trên giờ.
 |
| Thiết giáp hạm Scharnhorst trong một hải trình trên biển. Phía xa là hai máy bay chiến đấu của Đức bay "che đầu" yểm hộ phòng không cho tàu. |
Cả hai tàu chiến lớp Scharnhorst đều được bọc giáp thân dày đến 350mm. Vách ngăn ngư lôi bên trong thân tàu dày đến 45mm, chạy từ sàn boong bọc thép đến phần đáy bên trong tàu. Sàn boong bọc thép dày đến 50mm, với phần từ góc mở rộng cho đến phía dưới của giáp thân tàu được bọc thép 105mm. Scharnhorst cũng có sàn boong chính dày 50mm được ngăn cách với sàn boong chính bằng vách ngăn bọc thép dày 20mm. Loại giáp được sử dụng trên tàu chiến lớp Scharnhorst chủ yếu là thép đồng nhất Wh (Woman hart), có độ bền kéo lớn hơn đáng kể so với giáp hợp kim thấm carbon KC (Krupp Cementite) trên các tàu lớp Deutschland.
Biên chế thủy thủ đoàn trên tàu dao động từ 1.669 lên đến mức tối đa là 1.840 (bao gồm cả kíp lái dự bị để đánh chiếm các tàu bị bắt làm tù binh trong hoạt động ngăn chặn thương mại, săn lùng tàu buôn).
Hỏa lực chính của tàu là 9 pháo hải quân nòng xoắn SK C/28 cỡ nòng 280mm, bố trí trong ba tháp pháo: hai ở phía trước và một ở phía sau. Loại pháo này cũng giống như pháo chính trên các tàu chiến lớp Deutschland, có cùng các đặc tính kĩ chiến thuật với nhau.
Vũ khí phụ gồm: 12 pháo hải quân SK C/28 cỡ nòng 150mm, bố trí trong bốn tháp pháo hai nòng và bốn ụ pháo có khiên chắn; khi mới hạ thủy, hỏa lực phòng không trên các tàu là 14 pháo SK C/33 cỡ 105mm, bố trí trong bảy ụ pháo hai nòng; 16 pháo phòng không hải quân SK C/30 cỡ 37mm, bố trí trong tám ụ pháo hai nòng, và 10 pháo phòng không Flak 38 cỡ 20mm, bố trí trong các ụ pháo đơn. Số pháo phòng không 20mm đã bị tháo bỏ trước khi chiến tranh bắt đầu. Các ụ pháo 20mm bốn nòng Flakvierling 38 kiểu mới đã bắt đầu được lắp đặt từ năm 1941, và đạt đến con số tối đa là 6 ụ pháo trên tàu chiến Scharnhorst.
 |
| Những nòng pháo phòng không 105mm trên thiết giáp hạm lớp Scharnhorst. |
Cả hai tàu đều không được thiết kế trang bị ngư lôi, song kể từ năm 1941 chúng đều mang theo 6 ống phóng ngư lôi 533mm, bố trí trong hai bệ phóng ba ống trên mặt boong tàu. Các ống phóng này ban đầu được sử dụng trên các tàu tuần dương hạng nhẹ của Kriegsmarine, nhưng đã được chuyển cho các tàu chiến lớp Scharnhorst mà không có các hệ thống điều khiển hỏa lực đi kèm. Chúng cũng được trang bị ngư lôi tiêu chuẩn G7 giống như các tàu chiến lớp Deutschland.
Hỗ trợ cho việc xạ kích của pháo chính trên tàu là năm thiết bị đo xa quang học 10,5m. Ở phía trước và phía sau cấu trúc thượng tầng của tàu, cũng như tại mỗi tháp pháo chính đều được bố trí một thiết bị đo xa này. Từ tháng 11/1939, cả hai tàu lớp Scharnhorst đều được trang bị một radar trinh sát mục tiêu FuMO 22 trên cột buồm mũi. Loại radar này sử dụng anten màn kép cao 2m và rộng 6m, gắn phía trên thiết bị đo xa quang học trên cột buồm mũi. Thiết kế này không thay đổi trong suốt quá trình hoạt động của tàu.
Vào mùa hè năm 1941, tại Brest, hai tàu được trang bị radar FuMO 27 ở phía sau cột buồm mũi. Có một số bức ảnh chưa được xác nhận, cho thấy rằng cả hai tàu đều có anten FuMB Ant 6 Palau ở mặt sau cột buồm mũi. Đây có thể là anten của một hệ thống radar chưa xác định (có thể là thiết bị phát hiện radar FuMB 4 Samos). Hệ thống này được bố trí trước chiến dịch Cerberus - trận đột phá qua eo biển Manche - tháng 2/1942. Sau đó, trong quá trình tái trang bị cho tàu, chiếc Scharnhorst đã thay thế radar FuMO 22 của mình bằng loại FuMO 26 hoặc FuMO 27 với anten nhỏ hơn cỡ 2x4m. Bên dưới anten này là anten FuMB 7 Timor - được sử dụng cho hệ thống phát hiện radar FuMB 4. Hệ thống này thay thế cho anten Palau được gắn trên cột buồm mũi trước đây.