Tự do ngôn luận trên không gian mạng không phải “quyền vô giới hạn”

Quyền tự do ngôn luận phải đặt trong giới hạn, khuôn khổ pháp luật, trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản công dân, trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng.

Thời gian gần đây, trên không gian mạng xuất hiện tình trạng nhiều cá nhân tự do bình luận, bày tỏ quan điểm về các vụ việc xã hội, thậm chí có những phát ngôn mang tính quy kết, kết luận một cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật khi chưa có phán quyết của cơ quan có thẩm quyền.

PV Báo Tri thức và Cuộc sống đã có cuộc trao đổi với TS.LS Đặng Văn Cường, Giảng viên Luật hình sự, Trường Đại học Thủy Lợi xung quanh vấn đề trên.

655543.jpg
TS.LS Đặng Văn Cường, Giảng viên Luật hình sự, Trường Đại học Thủy Lợi

Mạng xã hội không phải là “vùng đất ngoài pháp luật”

Là chuyên gia pháp lý, ông nhìn nhận vấn đề trên thế nào?

TS.LS. Đặng Văn Cường: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm và bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do bày tỏ quan điểm thái độ ý kiến của mình đối với các vấn đề xã hội.

Tuy nhiên quyền tự do ngôn luận theo pháp luật Việt Nam phải đặt trong giới hạn, trong khuôn khổ pháp luật, trên cơ sở tôn trọng các quyền cơ bản công dân và tôn trọng trật tự an toàn xã hội, lợi ích của cộng đồng.

Thực tế, không phải ai cũng hiểu điều này khi bày tỏ quan điểm thái độ trên không gian mạng. Không ít người phát ngôn trên không gian mạng thiếu kiểm soát, những thông tin không được kiểm chứng, thậm chí cố ý bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm người khác trên không gian mạng. Không ít người đã bị xử lý bằng chế tài hành chính, thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên những hành vi vi phạm trên không gian mạng liên quan đến vấn đề phát ngôn vẫn còn diễn biến phức tạp.

Những năm gần đây, không gian mạng đã trở thành một môi trường quan trọng để người dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin, trao đổi quan điểm, phản biện xã hội và tham gia vào các vấn đề chung của đất nước. Đây là một biểu hiện sinh động của quyền tự do ngôn luận trong xã hội hiện đại. Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để công dân được bày tỏ quan điểm thái độ của mình đối với các vấn đề xã hội một cách dân chủ, công khai. Tuy nhiên, việc bày tỏ quan điểm, thái độ của mình đối với các vấn đề xã hội cũng phải trong giới hạn của pháp luật và không được lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm trái pháp luật đến các quyền cơ bản khác của công dân.

Thời gian qua có một thực tế đáng lo ngại là một bộ phận người sử dụng mạng xã hội đang hiểu chưa đúng về quyền tự do ngôn luận. Có người cho rằng chỉ cần đăng tải trên trang cá nhân, trong nhóm kín hoặc trên nền tảng mạng xã hội thì có thể phát ngôn tùy ý, đưa ra những nhận định thiếu căn cứ, thậm chí trực tiếp kết luận một người nào đó phạm tội, tham nhũng, lừa đảo, vi phạm pháp luật… trước khi cơ quan chức năng có kết luận chính thức. Thậm chí hành vi quy kết, buộc tội, xúc phạm sỉ nhục người khác trên không gian mạng diễn ra không ít, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh, môi trường văn hóa, tác động trực tiếp đến nhiều nạn nhân được nhắc tới trên mạng xã hội.

Đây là cách sử dụng quyền tự do ngôn luận không phù hợp, có thể xâm phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Đồng thời gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và làm suy giảm niềm tin của cộng đồng vào các cơ quan tư pháp.

Cần phải nhận thức rõ rằng mạng xã hội không phải là “vùng đất ngoài pháp luật”. Mọi hành vi trên không gian mạng đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật, trong đó có pháp luật về an ninh mạng, pháp luật về dân sự, hành chính và hình sự. Không nên vì thiếu hiểu biết, thiếu kỹ năng hoặc coi thường pháp luật, coi thường danh dự nhân phẩm uy tín của người khác, đề cao cảm xúc cá nhân để quy kết, xúc phạm người khác, đưa những thông tin bị cấm trên không gian mạng để rồi phải đối mặt với hậu quả pháp lý nghiêm trọng.

Mọi quyền tự do đều gắn với trách nhiệm pháp lý

Quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam quy định như thế nào, thưa ông?

TS.LS Đặng Văn Cường: Quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật. Đây là quyền cơ bản được bảo đảm trong suốt chiều dài lịch sử, thể hiện sự tiến bộ của xã hội, đặc biệt là tự do thông tin, tiếp cận thông tin trên không gian mạng trong bối cảnh kết nối toàn cầu ngày nay.

Ngoài Hiến pháp còn có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở dạng luật do Quốc Hội ban hành quy định về quyền tự do ngôn luận như: Luật báo chí, Luật tiếp cận thông tin, Luật giao dịch điện tử, Luật an toàn thông tin, Luật công nghiệp công nghệ số, Luật bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật trẻ em, Luật an ninh mạng…Mỗi văn bản quy phạm pháp luật lại có những quy định khác nhau quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong các mối quan hệ xã hội, để đảm bảo tối đa quyền làm chủ, quyền tiếp cận thông tin, quyền bày tỏ thái độ quan điểm của mình đối với các vấn đề xã hội.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng là quốc gia tham gia Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), trong đó ghi nhận quyền tự do biểu đạt của cá nhân. Tuy nhiên, điểm rất quan trọng cần nhấn mạnh là mọi quyền tự do đều gắn với trách nhiệm pháp lý. Quyền tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền được nói bất cứ điều gì, ở bất kỳ đâu, bằng bất kỳ cách thức nào mà không phải chịu trách nhiệm. Quyền ngôn luận của chủ thể này sẽ bị giới hạn bởi quyền được bảo vệ danh dự nhân phẩm uy tín của chủ thể khác.

Việc bày tỏ quan điểm thái độ ý kiến của mình đối với các vấn đề xã hội, thực hiện quyền tự do ngôn luận không được xâm phạm và các quyền khác của công dân, không được lợi dụng để xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức cá nhân.

Mọi người đều có quyền phát ngôn, kể cả phát ngôn trên không gian mạng, bằng các tài khoản mạng xã hội nhưng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin, nội dung phát ngôn của mình. Nếu phát ngôn sai sự thật, hoặc sử dụng ngôn ngữ là công cụ để công kích, tấn công người khác trên không gian mạng sẽ phải trả giá bằng chế tài của pháp luật.

Điều 29 ICCPR cũng khẳng định việc thực hiện các quyền và tự do phải chịu những hạn chế nhất định do pháp luật quy định nhằm tôn trọng quyền, danh dự của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội. Bất kỳ quốc gia nào cũng quy định giới hạn của quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt quan điểm thái độ của mình đối với các vấn đề xã hội. Nếu quyền này bị lợi dụng, bị lạm dụng, bị biến thành vũ khí để tấn công người khác hoặc đưa ra những luận điệu xuyên tạc, thông tin bịa đặt gây nhiễu loạn thông tin, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa, người vi phạm sẽ bị xử lý. Pháp luật Việt Nam cũng đặt ra những giới hạn cần thiết để bảo vệ các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện quyền tự do ngôn luận.

Giới hạn của quyền tự do ngôn luận

Giới hạn của quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng đến đâu, thưa luật sư?

TS.LS Đặng Văn Cường: Về lý luận, cái gì cũng có giới hạn của nó, kể cả quyền tự do ngôn luận. Trong không gian sinh tồn, có nhiều chủ thể cùng tồn tại, bởi vậy quyền tự do của chủ thể này trước tiên sẽ bị giới hạn bởi quyền tự do của chủ thể khác và các quyền khác của công dân. Tự do có giới hạn không có nghĩa là phủ nhận quyền tự do mà đó là cách biểu đạt của quyền tự do. Có thể nói rằng “người sống trong khuôn khổ pháp luật là người tự do nhất” (tự do trong khuôn khổ pháp luật) mà trong xã hội có nhà nước thì có pháp luật, mọi người đều được tự do trong cái khuôn khổ đó để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo quyền của các chủ thể khác nhau trong xã hội.

Có thể nhìn nhận giới hạn của quyền tự do ngôn luận ở một số nhóm hành vi. Thứ nhất, không được lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Người ta có quyền khen, chê, có quyền góp ý, có quyền bày tỏ quan điểm thái độ của mình đối với các vấn đề xã hội nhưng không có quyền quy kết và xúc phạm, không có quyền cáo buộc vô căn cứ, không có quyền “kết tội thay tòa”, không có quyền xâm phạm đến quyền nhân dân, quyền hình ảnh của người khác đã được pháp luật bảo vệ. Việc tố cáo, khởi kiện, khiếu nại, tố giác tội phạm cũng phải trong khuôn khổ pháp luật, theo trình tự thủ tục luật định.

Việc phê bình, nhận xét, phản ánh thông tin là quyền của công dân, nhưng phải dựa trên sự thật khách quan, có căn cứ. Việc sử dụng những lời lẽ miệt thị, xúc phạm, bịa đặt, gán ghép người khác phạm tội hoặc có hành vi xấu xa khi không có căn cứ có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý. Đặc biệt là đặc điểm của không gian mạng là dễ dàng đăng tin, dễ dàng chia sẻ, lan tỏa thông tin nên sự tác động của mạng xã hội rất lớn và rất nhanh. Những thông tin xấu, những thông tin có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, có mục đích công kích người khác, quy kết, kết tội người khác luôn được săn đón, lan tỏa khiến cho hậu quả đến nhanh và ngày càng nghiêm trọng theo thời gian.

Bởi vậy, các cụ xưa thường dạy là “sảy chân thì dễ chữa, sảy miệng khó chữa”. Khi lời nói đã thốt ra rồi khó mà rút lại được. Khi thông tin, ngôn ngữ đã được đăng tải lên mạng xã hội, sức lan tỏa càng nhanh chóng, có sửa chữa cũng không thể khắc phục được hết hậu quả. Giống như viên đạn bắn đi ít nhiều cũng gây ra hậu quả, đôi khi hậu quả của lời nói cay độc, bịa đặt, xuyên tạc còn nghiêm trọng hơn là những tác động vào thân thể. Những nội dung thông tin độc hại trên không gian mạng không chỉ ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm uy tín của một người mà còn có thể ảnh hưởng đến đời sống tâm lý của nhiều người, thậm chí ảnh hưởng lâu dài, có thể làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, trầm cảm hoặc dẫn đến nạn nhân có những hành động tiêu cực.

Thứ hai, không được tự biến mình thành “cơ quan xét xử” trên mạng xã hội. Trong một Nhà nước pháp quyền, việc xác định một người có phạm tội hay không thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng trên cơ sở điều tra, truy tố, xét xử theo trình tự luật định. Tuy nhiên, thực tế trên mạng xã hội cho thấy, khi cơ quan điều tra khởi tố một bị can nào đó và đăng thông tin, nhiều người đã tin ngay là họ có tội, quy kết buộc tội, xúc phạm danh dự nhân phẩm uy tín của họ, của thân nhân của họ, thậm chí quy kết các bạn bè, đồng nghiệp của họ cũng phạm tội, vi phạm pháp luật luật giống họ, đôi khi tạo ra những dư luận tiêu cực, đáng lo ngại.

Công dân có quyền đặt câu hỏi, bày tỏ quan điểm, đề nghị cơ quan chức năng làm rõ vụ việc. Song không nên tùy tiện tuyên bố một cá nhân là “tội phạm”, “lừa đảo”, “tham nhũng” khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật; không có quyền khẳng định người này, người kia đã phạm tội. Nếu nghi ngờ ai đó vi phạm pháp luật, chỉ ra ai đó có dấu hiệu phạm tội, đồng thời tố giác đến cơ quan chức năng trên cơ sở những tài liệu chứng cứ khách quan, trên tinh thần xây dựng và bảo vệ lẽ phải. Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào những thông tin trên mạng xã hội, thông tin một chiều chưa được kiểm chứng mà lại vội vàng thổi phồng, quy kết để buộc tội người khác, đó là hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ ba, không được đưa thông tin sai sự thật, thông tin chưa được kiểm chứng gây hoang mang trong xã hội. Trong bối cảnh công nghệ phát triển, đặc biệt là sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo, deepfake, việc tạo dựng, chỉnh sửa, lan truyền thông tin giả đang trở thành nguy cơ lớn đối với an ninh thông tin. Với đặc điểm của không gian mạng, hậu quả và hệ lụy của nó có thể gây ra đối với xã hội khi thông tin không đúng sự thật nên nhà nước đã có những quy định rất chặt chẽ về việc đưa thông tin về quản lý thông tin trên không gian mạng.

Pháp luật đòi hỏi tất cả các thông tin trên không gian mạng phải là thông tin đúng sự thật, khách quan. Pháp luật nghiêm cấm hành vi đưa thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác trên không gian mạng. Cụ thể Luật an ninh mạng sửa đổi 2025 quy định tại điều 7 về các hành vi bị nghiêm cấm về an ninh mạng đã nêu rõ.

Chế tài đối với hành vi vi phạm trên không gian mạng

Nghị định 174 có những chế tài nào đối với hành vi vi phạm trên không gian mạng, thưa ông?

TS.LS Đặng Văn Cường: Đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, trong đó có những hành vi đưa thông tin sai sự thật nên không gian mạng hoặc những hành vi khác vi phạm điều 7 Luật An ninh mạng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính theo các quy định về xử phạt vi phạm trong lĩnh vực thông tin và truyền thông. Trong đó có Nghị định 174/2026/NĐ-CP với mức phạt có thể tới 50.000.000 đồng. Riêng hành vi đưa thông tin sai sự thật có mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cao hơn rất nhiều so với nghị định số 15 trước đây.

Các hành vi như cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của cá nhân, tổ chức trên mạng xã hội tùy tính chất, mức độ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm, cải chính thông tin hoặc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả khác. Mức xử phạt cụ thể phụ thuộc vào tính chất hành vi, hậu quả xảy ra, đối tượng vi phạm và các tình tiết liên quan.

Điều quan trọng là người sử dụng mạng xã hội cần hiểu rằng một bài viết, một bình luận, một lượt chia sẻ cũng có thể trở thành căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý nếu nội dung đó vi phạm pháp luật.

Cụ thể Điều 95. Quy định về hành vi vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội có các mức xử phạt như sau: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ súy cho tệ nạn xã hội, mại dâm, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm; Lợi dụng mạng xã hội để sản xuất nội dung dưới hình thức phóng sự, điều tra, phỏng vấn báo chí; Các cơ quan báo chí không thực hiện thông báo khi thiết lập tài khoản, trang cộng đồng, kênh nội dung, nhóm cộng đồng trên mạng xã hội trong và ngoài nước theo quy định; Chủ tài khoản, chủ kênh nội dung, chủ trang cộng đồng, người quản trị nhóm cộng đồng trên mạng xã hội không thực hiện ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin vi phạm pháp luật, thông tin ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, thông tin ảnh hưởng đến trẻ em đăng tải trên tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung của mình khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự; Cung cấp, chia sẻ thông tin sai sự thật gây hoang mang trong Nhân dân, gây thiệt hại cho hoạt động kinh tế - xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn hoặc thông tin vi phạm pháp luật do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này; Buộc khóa tài khoản, trang cộng đồng, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều này.

Trong trường hợp nghiêm trọng hơn, người vi phạm có thể bị xử lý hình sự về những tội danh nào?

TS.LS Đặng Văn Cường: Nếu hành vi phát ngôn thiếu kiểm soát, đưa thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác hoặc thực hiện các hành vi bị cấm trên không gian mạng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tùy thuộc vào hành vi cụ thể và hậu quả cụ thể mà người vi phạm sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một số tội danh trong đó có thể kể đến như:

- Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự áp dụng đối với trường hợp bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

- Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự áp dụng khi có hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác.

- Các hành vi đưa thông tin trái phép trên mạng có thể bị xử lý theo các quy định của Bộ luật Hình sự nếu xâm phạm đến lợi ích được pháp luật bảo vệ, tùy nội dung, mục đích, hậu quả và tính chất của hành vi. những tội danh này có hình phạt tới 5 năm tù, thậm chí có những tội danh hình phạt tới 7 năm tù.

Ngoài ra, người thực hiện hành vi đưa thông tin trái phép ở mức độ nghiêm trọng trên mạng xã hội còn phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra đối với nạn nhân.

655555555.png

Người dân cần có kỹ năng gì khi tham gia môi trường mạng

Theo ông, người dân cần có kỹ năng gì khi tham gia môi trường mạng để tránh vi phạm pháp luật?

TS.LS Đặng Văn Cường: Mỗi công dân khi tham gia không gian mạng cần xây dựng cho mình ba nhóm kỹ năng quan trọng.

Cụ thể các kỹ năng cần có để sử dụng mạng xã hội trong bối cảnh ngày nay có thể kể đến như:

Thứ nhất là kỹ năng kiểm chứng thông tin. Không chia sẻ thông tin chỉ vì thấy nhiều người đăng tải hoặc vì thông tin đó phù hợp với cảm xúc, quan điểm cá nhân. Cần kiểm tra nguồn tin, thời điểm, tính xác thực trước khi bình luận hoặc chia sẻ.

Thứ hai là kỹ năng tranh luận văn minh. Có thể không đồng tình với một quan điểm, một cá nhân hoặc một chính sách nào đó, nhưng việc phản biện cần dựa trên lập luận, bằng chứng và ngôn ngữ phù hợp.

Thứ ba là ý thức trách nhiệm pháp lý. Mỗi tài khoản mạng xã hội đều gắn với một chủ thể cụ thể. Không gian mạng lưu lại dấu vết điện tử, vì vậy việc nghĩ rằng “ẩn danh thì không chịu trách nhiệm” là nhận thức sai lầm.

Một kinh nghiệm cho thấy là không chia sẻ, đăng tải các thông tin hình ảnh khi ở độ hưng phấn cao, nguồn tin chưa được kiểm chứng hoặc trong trạng thái cảm xúc không tốt. Mọi hành vi vội vàng, thiếu kiên nhẫn, không kiểm soát được cảm xúc hoặc thiếu hiểu biết pháp luật đều phải trả giá bằng tiền, thậm chí có thể tới 7 năm tù. Đó là cái giá rất đắt cho cái tôi kiêu ngạo, cho sự thiếu hiểu biết pháp luật hoặc ý thức coi thường pháp luật.

Do đó, trước khi nhấn nút đăng tải một thông tin trên mạng xã hội, mỗi người cần tự đặt câu hỏi: Thông tin này có đúng sự thật không? Có xâm phạm quyền của người khác không? Và nếu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, mình có sẵn sàng hay không? Ý thức pháp luật của mỗi công dân chính là hàng rào quan trọng nhất để xây dựng không gian mạng văn minh, an toàn.

Theo ông, cơ quan chức năng cần làm gì để nâng cao hiệu quả quản lý thông tin trên mạng xã hội?

TS.LS Đặng Văn Cường: Thực trạng thông tin mạng rất hỗn loạn, phức tạp. Nhiều người thiếu hiểu biết pháp luật hoặc coi thường pháp luật nên đưa ra rất nhiều thông tin thiếu kiểm chứng, thậm chí bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, cố ý xúc phạm danh dự nhân phẩm của người khác nên tăng cường quản lý thông tin trên không gian mạng là đòi hỏi cần thiết. Quản lý không gian mạng cần được thực hiện trên nguyên tắc vừa bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân, vừa bảo vệ an ninh, trật tự và quyền lợi hợp pháp của các chủ thể.

Theo tôi, cần tập trung vào một số giải pháp. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý thông tin số để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu rằng tự do ngôn luận là quyền được pháp luật bảo vệ nhưng phải đi kèm trách nhiệm.

Thứ ba, nâng cao năng lực phát hiện, xử lý thông tin giả, thông tin sai sự thật; đồng thời tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp cung cấp nền tảng và cộng đồng người sử dụng.

Thứ tư, cần chú trọng giáo dục kỹ năng số trong nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp để hình thành văn hóa ứng xử trên không gian mạng.

Mục tiêu của việc quản lý không phải là hạn chế tiếng nói của người dân, mà là xây dựng một môi trường mạng an toàn, lành mạnh, nơi quyền tự do biểu đạt được tôn trọng nhưng không bị lợi dụng để xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Xin cảm ơn TS.LS Đặng Văn Cường về cuộc trao đổi trên!

>>> Mời độc giả xem thêm video Bạo lực học đường không chỉ dừng ở bản kiểm điểm:

Đọc nhiều nhất

Công ty Hồng Hà Vina trúng thầu sát giá tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM [Kỳ 1]

Công ty Hồng Hà Vina trúng thầu sát giá tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM [Kỳ 1]

Công ty Hồng Hà Vina liên tiếp trúng thầu tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM với tỷ lệ tiết kiệm ngân sách siêu thấp 0% và 0,99%. Dư luận đang đặt dấu hỏi lớn về tính cạnh tranh và quy trình thẩm định giá của chủ đầu tư khi đối thủ mạnh bất ngờ trượt ở bước đánh giá kỹ thuật bởi lỗi sơ đẳng.

Tin mới

Công ty Hồng Hà Vina trúng thầu sát giá tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM [Kỳ 1]

Công ty Hồng Hà Vina trúng thầu sát giá tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM [Kỳ 1]

Công ty Hồng Hà Vina liên tiếp trúng thầu tại phường Đông Hưng Thuận, TP HCM với tỷ lệ tiết kiệm ngân sách siêu thấp 0% và 0,99%. Dư luận đang đặt dấu hỏi lớn về tính cạnh tranh và quy trình thẩm định giá của chủ đầu tư khi đối thủ mạnh bất ngờ trượt ở bước đánh giá kỹ thuật bởi lỗi sơ đẳng.

Giải pháp chấn chỉnh hoạt động đấu thầu tại Phòng Kinh tế xã Hàm Thuận Nam [Kỳ 5]

Giải pháp chấn chỉnh hoạt động đấu thầu tại Phòng Kinh tế xã Hàm Thuận Nam [Kỳ 5]

Trước những điểm mờ về tỷ lệ tiết kiệm đạt mức 0% và sự xuất hiện dày đặc của một nhóm nhà thầu quen mặt, các chuyên gia pháp lý kiến nghị cần có biện pháp thanh tra toàn diện để đảm bảo tính thượng tôn pháp luật trong quản lý vốn đầu tư công tại Phòng Kinh tế xã Hàm Thuận Nam, tỉnh Lâm Đồng.