Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành văn bản yêu cầu tăng cường công tác phòng, chống bạo lực học đường, trong đó nhấn mạnh quy định “không quay phim, chụp ảnh, phát tán hình ảnh, clip bạo lực lên mạng xã hội”. Ngay sau khi được công bố, nội dung này đã thu hút sự quan tâm và tạo ra nhiều luồng ý kiến trái chiều.
Trao đổi với Tri thức và Cuộc sống, Thượng tá, Tiến sĩ Đào Trung Hiếu, chuyên gia tội phạm học cho hay, chủ trương yêu cầu học sinh “tuyệt đối không quay phim, chụp ảnh, phát tán clip bạo lực lên mạng xã hội” cần được hiểu đúng. Đây không phải là sự ngăn cản việc tố giác bạo lực học đường, càng không phải là che đậy sai phạm trong nhà trường, mà là một biện pháp cần thiết để chặn đứng vòng bạo lực thứ hai: bạo lực trên không gian mạng.
Đừng biến nỗi đau của trẻ em thành “content”
“Tôi cho rằng chủ trương này là rất cần thiết và đúng hướng. Trong nhiều vụ việc thời gian qua, bạo lực học đường không chỉ diễn ra bằng nắm đấm, cái tát, cú đá, mà còn tiếp tục kéo dài bằng ống kính điện thoại, bằng tiếng hò reo của người đứng xem, bằng những lượt chia sẻ vô cảm trên mạng xã hội”, TS Đào Trung Hiếu khẳng định.
Theo TS Đào Trung Hiếu, một đứa trẻ bị đánh trong lớp, trong nhà vệ sinh, ngoài cổng trường đã là một nạn nhân. Nhưng khi hình ảnh em bị làm nhục, bị quây đánh, bị xé áo, bị chửi bới tiếp tục lan truyền trên TikTok, Facebook, các hội nhóm, thì em trở thành nạn nhân thêm lần nữa. Vết thương thể xác có thể lành, nhưng cảm giác bị cả đám đông nhìn thấy, bình phẩm, chế giễu, lưu trữ mãi trên mạng có thể trở thành một sang chấn rất dài.
Bởi vậy, điều Bộ Giáo dục và Đào tạo muốn ngăn chặn không phải là hành vi ghi nhận chứng cứ để bảo vệ nạn nhân, mà là việc biến bạo lực học đường thành một thứ “nội dung giải trí”, một thứ “hàng nóng” để câu view, câu like, kích động đám đông.
TS Đào Trung Hiếu cho hay, về mặt pháp lý và nghiệp vụ phòng ngừa, trong một số tình huống, hình ảnh, video có thể là chứng cứ quan trọng để xác minh sự thật. Nhưng chứng cứ phải được chuyển đến người có thẩm quyền xử lý, chứ không phải ném lên mạng để dư luận “xét xử”.
Khi một học sinh chứng kiến bạo lực, việc đúng cần làm là báo ngay cho giáo viên, bảo vệ, phụ huynh, tổng phụ trách, công an địa bàn trong trường hợp nghiêm trọng; nếu có ghi nhận hình ảnh thì phải gửi riêng cho người có trách nhiệm.
Còn việc đăng công khai clip có mặt nạn nhân vị thành niên, lộ danh tính, lộ trường lớp, lộ hoàn cảnh gia đình… có thể xâm phạm nghiêm trọng quyền trẻ em, làm nhục người khác, kích động bạo lực hoặc tiếp tay cho hành vi bắt nạt trực tuyến.
Vì thế, không nên hiểu là “cấm quay mọi trường hợp”, mà phải hiểu là: không quay để cổ vũ, không quay để phát tán, không quay để làm nhục, không chia sẻ để câu tương tác. Nếu buộc phải ghi nhận làm chứng cứ, phải bảo mật, chuyển đúng kênh, đúng người, đúng quy trình.
Muốn cấm hiệu quả, phải mở đường tố giác an toàn.
Chuyên gia tội phạm học Đào Trung Hiếu chia sẻ, điều đáng lo nhất hiện nay là bạo lực học đường đã không còn thuần túy là xung đột trong sân trường. Nó thường bắt đầu từ mạng xã hội, được kích thích bởi mạng xã hội và sau đó lại quay trở về mạng xã hội dưới dạng clip, livestream, bình luận, chế ảnh, bóc phốt.
Ở góc độ tội phạm học, đây là một vòng xoáy nguy hiểm. Đứa trẻ đánh bạn có thể muốn thể hiện uy quyền. Đứa trẻ quay clip có thể muốn chứng minh mình “biết chuyện”, “có hàng độc”. Đám đông chia sẻ có thể nghĩ mình đang đòi công lý, nhưng nhiều khi lại vô tình làm nạn nhân bị tổn thương nặng hơn và khiến sự việc vượt khỏi khả năng kiểm soát của nhà trường, gia đình.
Vì vậy, chủ trương của Bộ GD&ĐT phải được nhìn như một biện pháp phòng ngừa sớm trên không gian mạng. Văn bản số 3147/BGDĐT-HSSV ngày 29/5/2026 yêu cầu các cơ sở giáo dục tăng cường kỹ năng sống, kỹ năng tự bảo vệ, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng ứng xử trên môi trường mạng; đồng thời triển khai hòm thư góp ý điện tử, ứng dụng bảo mật để học sinh tố giác hành vi bắt nạt và được bảo vệ danh tính.
Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào đời sống, nhà trường không thể chỉ nói “cấm”. Nếu chỉ cấm học sinh quay, cấm đăng, nhưng khi các em báo tin lại không được bảo vệ, không được lắng nghe, thậm chí bị quy là “làm ảnh hưởng thi đua”, thì các em sẽ tiếp tục tìm đến mạng xã hội như một lối thoát.
Do đó, cùng với việc ngăn phát tán clip, mỗi trường phải thiết lập cơ chế tiếp nhận tố giác thật sự an toàn. Hòm thư điện tử, đường dây nóng, phòng tư vấn tâm lý, giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, Đoàn thanh niên, công an xã phường phải được kết nối thành một quy trình phản ứng nhanh.
“Khi học sinh báo tin, nhà trường phải xác minh kịp thời, bảo vệ người tố giác, hỗ trợ nạn nhân, xử lý người vi phạm và thông tin minh bạch trong phạm vi cần thiết. Cấm phát tán clip bạo lực không có nghĩa là làm im tiếng nói của học sinh. Ngược lại, phải tạo cho các em một con đường lên tiếng văn minh hơn, an toàn hơn và có hiệu quả hơn”, ông Hiếu cho hay.
Bài học lớn là dạy trẻ biết can ngăn, biết báo tin, biết từ chối đám đông
Từ những phân tích, theo TS Đào Trung Hiếu, điều ngành giáo dục cần làm sâu hơn là dạy học sinh đạo đức công dân số. Khi thấy bạn bị đánh, phản xạ đầu tiên không phải là rút điện thoại ra quay, mà là tìm cách gọi người lớn, tách nạn nhân khỏi nguy hiểm, báo cho người có trách nhiệm và không tiếp tay cho đám đông kích động.
Một học sinh tử tế trong thời đại số không chỉ là người không đánh bạn, mà còn là người không chia sẻ clip làm nhục bạn. Một nhà trường an toàn không chỉ là nơi không có bạo lực, mà còn là nơi mọi dấu hiệu bạo lực được phát hiện sớm, xử lý đúng và không bị biến thành trò tiêu khiển trên mạng.
“Vì vậy, tôi đánh giá chủ trương này là một bước đi đúng. Nó đặt ra một chuẩn mực rất quan trọng: bạo lực học đường không được phép trở thành “content”; nỗi đau của trẻ em không được phép trở thành công cụ kiếm tương tác; và công lý học đường không thể được thực hiện bằng sự phán xét hỗn loạn của đám đông mạng”, ông Hiếu chia sẻ.
TS Đào Trung Hiếu cho hay, điều cần làm bây giờ là giải thích cho đúng, triển khai cho khéo và xử lý cho nghiêm. Khi đó, quy định này không chỉ giúp giảm phát tán clip bạo lực, mà còn góp phần xây dựng một văn hóa học đường nhân văn hơn, trong đó mỗi học sinh biết bảo vệ bạn mình bằng trách nhiệm, chứ không phải bằng chiếc điện thoại giơ lên trong vô cảm.