Sự kỳ diệu của nếp sống tâm linh

Hai vợ chồng anh bạn tôi đều là giáo viên. Sau ngày thống nhất đất nước (1975), anh được tiếp tục giảng dạy còn vợ phải nghỉ. Cơm áo gạo tiền là mối lo ngày đêm canh cánh bên lòng.

Tuy thế, để giữ vững “cái ghế” đứng lớp, anh phải đem hết năng lực nhiệt tình vào công việc giảng dạy, tích cực lao động, chăm sóc học sinh, nỗ lực rèn luyện đạo đức, học tập chuyên môn… Đây là chỗ tựa mong manh cho gia đình anh trong những ngày mới.
Su ky dieu cua nep song tam linh
 Hoa từ đất cằn vọt lên - Ảnh minh họa
Dù sao được đứng trên bục giảng cũng là niềm vui giúp anh quên đi bao nỗi lo lắng bức bách. Những ngày ấy tôn giáo còn là vấn đề nhạy cảm, tuy không có văn bản chỉ thị… nhưng mọi người đều ngại, không ai dám lui tới cửa chùa. Vì vậy, việc tu học của người Phật tử tại gia, hai vợ chồng ngày đêm trăn trở. Liệu có ảnh hưởng đến công tác, đến chén cơm manh áo của gia đình? Sau một thời gian nghỉ sinh hoạt, chị thấy nhớ chùa và thầm nhủ dù chi đi nữa thì cũng không thể bỏ chùa, vì không có con đường nào khác, tâm linh là nơi nương tựa mà bao năm gia đình anh chị đã gắn bó.
Thời gian đầu cũng gặp không ít trở ngại, nhưng chị coi như là thử thách phải vượt qua. Chị trở lại chùa, tham gia các Phật sự, cùng với Ban Từ thiện chùa đi vận động quyên góp tiền bạc, mì gói, áo quần cũ đưa đến giúp bà con những nơi khó khăn, nạn nhân thiên tai bão lũ. Anh không thể đi chùa nhưng ở nhà tinh tấn hành trì, vận dụng lời Phật dạy vào cuộc sống, vào việc giảng dạy. Ban ngày công việc tối cả mặt mày nhưng mỗi tối trước khi đi ngủ, anh dành 30 phút ngồi tĩnh tọa theo dõi hơi thở ra vào…. Việc làm này tuy đơn giản nhưng mang lại hiệu quả tích cực, giúp anh vơi đi những căng thẳng trong ngày nên giấc ngủ ngon, sáng dậy tỉnh táo và đủ sức để tiếp tục làm việc. Và dù bận rộn đến mấy, hễ nghe bà con hay bạn bè bị đau ốm, gặp hoạn nạn, anh liền tranh thủ đến thăm hỏi động viên. Tình cảm yêu mến, kính trọng của các em học sinh đặt vào anh, và các thầy cô giáo trong trường cũng dành cho anh sự tin cậy.
Những việc làm của anh tuy âm thầm không báo cáo, không được tuyên dương nhưng một số phụ huynh học sinh trong đó có nhiều vị là cán bộ địa phương ghi nhận. Xã nơi anh đang công tác đã cấp một lô đất để gia đình sinh sống và anh yên tâm công tác. Lô đất cả ngàn mét vuông nhưng thuộc loại đất hoang hóa, lại xa nội thị và cách trở đường đi lại nên không mấy thuận tiện. Tuy thế, vợ chồng anh ra sức cải tạo khu đất hoang để xây dựng cuộc sống. Công tác ở trường đứng lớp, hội họp, lao động đã chiếm hết thời gian nên anh chỉ còn tranh thủ ngày Chủ nhật và thức khuya dậy sớm. Ngày ngày anh nhặt nhạnh từng tấm tôn cũ, đốn tre trong vườn dựng tạm mái nhà che mưa đỡ nắng, trong khi chị lo dọn cỏ, xới đất, bón phân tưới nước… Sau hai năm cật lực lao động, đám đất hoang giờ đã mọc lên ngôi nhà tươm tất giữa khu vườn đủ thứ rau củ quả, nhất là cây quật (quất, tắc), cây chủ lực bán để mua sắm Tết. Rau trái củ quả trong vườn mỗi ngày chị đem ra chợ bán trang trải mọi chi tiêu gia đình, lương anh chỉ đủ gởi cho con ăn học.
Ban ngày ai nấy tất bật lao động, có thì giờ đâu để lo nghĩ…, nhưng đêm đến, bao nhiêu điều băn khoăn trăn trở ùa về. Có những nỗi lo có thể chia sẻ với bạn bè người thân, nhưng có những nỗi niềm chỉ thầm kín trong lòng không thể bộc bạch cùng ai. Gia đình bốn đứa con gái… rồi tương lai sẽ ra sao?! Đây là vấn đề mà hai vợ chồng anh đêm đêm nằm vắt tay lên trán lo lắng. Công ăn việc làm tiền bạc dù có khó đi nữa rồi cũng có cách giải quyết, nhưng thân phận con gái… mười hai bến nước ở ngoài tầm tay của hai người! Làm cha mẹ có lo cũng đành chịu?! Cuối cùng họ đặt hết niềm tin vào Tam bảo, tin vào lòng Đại từ Đại bi của Bồ-tát Quán Thế Âm.
Và cứ thế, hai người chí thú làm ăn và lo tu tập, thực hành lời Đức Phật dạy. Mỗi ngày vợ chồng nhắc nhở, động viên nhau trời Phật có mắt chẳng lẽ phụ người ăn hiền ở lành! Con gái đầu của anh học đại học ngoại ngữ, tốt nghiệp ra trường hai năm mà chưa có việc làm, nên xin bán hàng cho một cửa hàng bán đồ lưu niệm. Tuy không phù hợp trình độ và ngành học nhưng biết làm sao! Và khi thấy anh đi chiếc xe Dream (quả là giấc mơ) thay chiếc xe đạp cọc cạch bấy nay, bạn bè không khỏi ngạc nhiên. Sau đó thấy anh làm nhà mới và ít lâu sau gởi thiệp mời bạn bè dự đám cưới con gái. Mọi người mới vỡ lẽ thì ra con gái anh kết hôn với… một người nước ngoài.
Hai đứa con giữa của anh thời khó khăn đã nghỉ học làm công nhân dệt may, nay đã học bổ túc. Một đứa sau khi tốt nghiệp cấp 3 theo học khóa sơ cấp kế toán, tốt nghiệp xin làm kế toán cho một doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu. Sau thời gian có kinh nghiệm, cháu thuê nhà mở cửa hàng bán đồ lưu niệm và lập gia đình. Chỉ năm sáu năm, hai vợ chồng cháu đã mua nhà ở nội thị mở cửa hàng buôn bán.
Đứa thứ ba sau khi tốt nghiệp cấp 3 thi vào đại học Ngoại ngữ. Ra trường đúng vào lúc thành phố phát động phong trào thanh niên làm từ thiện. Cháu tham gia phục vụ quán cà-phê Tình thương hỗ trợ người khuyết tật. Cơ hội này cháu quen biết và đi đến hôn nhân với một kỹ sư cùng hoạt động thiện nguyện. Sau một thời gian, hai vợ chồng trẻ đã có ngôi nhà khang trang ngay trong nội thị.
Con gái út đỗ vào Đại học sư phạm và sau khi tốt nghiệp cũng được đi dạy và lấy chồng sĩ quan biên phòng. Đến năm 2000, một con đường trải nhựa chạy qua trước nhà anh. Đất của anh trở nên đất vàng. Các con anh nay đã có gia thất và nhà cửa đàng hoàng. Thật ngoài cả mơ ước của vợ chồng anh! Gia đình anh qua đi những ngày khó khăn vất vả, cuộc sống đã hanh thông. Tuy thế, vợ chồng anh vẫn duy trì nếp sống giản dị, ngày ngày chăm sóc mảnh vườn trồng rau sạch để ăn và chia sẻ với con cái và bạn bè hàng xóm.
Bạn bè thấy thế hỏi: “Nè, vợ chồng anh sao giỏi quá, và cuộc sống nay đã sung túc sao không vui chơi bù lại những ngày thiếu thốn cực khổ?”. Anh cười đáp: “Cũng nhờ khó khăn mà chúng tôi thấu hiểu ý nghĩa lao động và cảm thông với những ai gặp hoàn cảnh khó khăn. Và các con tôi cũng do thiếu thốn đã lo học và chăm làm, nay mới có công ăn việc làm. Do đó, chúng tôi thực hiện nếp sống thiểu dục tri túc, động viên con cháu bớt chi tiêu để có chút ít thời gian và tiền bạc giúp người khó khăn hoạn nạn”.
Nhờ đâu mà anh có được thành quả hôm nay? Điều này thật khó nói, anh chỉ ấp ủ trong lòng. Hai vợ chồng anh chiều chiều bắc ghế ngồi trên hiên nhà nhìn ngắm vườn cây bốn mùa xanh tươi hoa trái đủ màu. Họ tự hỏi lòng, rồi nhìn nhau bằng niềm tin sâu sắc vào sự gia hộ của Tam bảo, sự kỳ diệu của nếp sống tâm linh!

Các chuyên gia lý giải gì chuyện trấn yểm ở Việt Nam?

Những câu chuyện về cột đồng Mã Viện, trấn yểm của Cao Biền, trận đồ bát quái dưới lòng sông Tô Lịch, Nguyễn Văn Thiệu trấn yểm long mạch ở Sài Gòn, hay hòn đá ở Đền Hùng… là những chuyện ly kỳ mà khoa học vẫn còn đang lý giải.

Trấn yểm, theo các nhà nghiên cứu không còn là phạm trù tâm linh mà trở thành một môn khoa học đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng vào cuộc sống. Tuy nhiên, đến nay những lý giải về trấn yểm mới chỉ ở mức mơ hồ, tranh tối tranh sáng khiến nhiều người lầm tưởng trấn yểm là một chuyện bịa.
Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Điệp.
Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Điệp. 
Trấn yểm là gì?
Theo tìm hiểu của chúng tôi, cho đến thời điểm hiện tại, ở nước ta chưa có bất cứ một công trình nghiên cứu khoa học nào thực sự công phu, tỉ mỉ về đề tài trấn yểm. Số nhiều chỉ là những câu chuyện trong cuộc trà dư tửu hậu, rồi qua mỗi người câu chuyện ấy lại được thêm chút ít cho thành huyền thoại.
Phàm là người phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, không ai mà chưa một lần được nghe về chuyện trấn yểm. Thế nhưng, vấn đề càng trở nên bí ẩn, nửa hư nửa thực và thậm chí đã khiến không ít người phủ nhận sự tồn tại của trấn yểm và coi đó là chuyện bịa.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh. 

“Thực tế thì trấn yểm là điều có thật và tồn tại từ rất lâu rồi. Bởi vì nó là một môn khoa học chưa được giải thích thấu đáo nên còn nhiều vấn đề mơ hồ. Gạt bỏ qua những câu chuyện chưa được kiểm chứng, chúng ta đi giải thích thuật ngữ trấn yểm thì sẽ tìm được ý nghĩa trước mắt”, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông Phương cho biết.

Theo ông Tuấn Anh, “trấn” nghĩa đen là đè xuống; “yểm” là dấu đi đồng nghĩa với ếm, ém, nghĩa đen là làm cho một đối tượng bị ếm, ém, yểm không phát triển được. Đây là một thuật ngữ trong phong thủy mô tả một phương pháp làm cho cái xấu, hoặc tốt không phát huy được.

Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Điệp, Giám đốc Trung tâm dịch thuật, dịch vụ Văn hóa & Khoa học – Công nghệ: “Trấn yểm là dùng các vật thể nào đó để phá hoại đối phương về long mạch, mồ mả, kinh tế, sức khỏe. Nhưng cũng có những cách trấn yểm đem lại lợi lộc như trừ đi khí xấu để bảo vệ sức khỏe”.

Học giả Trung Trí lại luận giải thế này: Trấn yểm là hai từ Hán – Việt. Trong Hán ngữ, “trấn” thuộc bộ Kim. Nếu là danh từ, nó vừa có nghĩa là dụng cụ dùng để đè, chặn, vừa có nghĩa là cái căn gốc làm cho một nước nào đó được yên định, tỷ như “phù bất vong cung kính, xã tắc chi trấn dã” (Không quên cung kính, đó là cái căn gốc làm cho xã tắc yên định). Nhưng nếu là động từ, “trấn” có nghĩa là áp chế, ngăn chặn, dìm ém, trùm đậy, thường thấy nơi từ “trấn thủ” hoặc “trấn tà”.

“Yểm” thuộc về bộ Thủ. Là động từ, nó cũng có nghĩa tương tự chữ “trấn”. Như vậy ở đây, trấn yểm thường được gọi chếch ra thành trù ếm, hay trù úm, chỉ có thể hiểu trong tư cách một động từ, nên phải mang nghĩa của một động từ, đó là hành vi trùm ém, dìm nén, đì đè xuất phát từ một vật hay người này lên một vật, hay người kia, nhằm triệt tiêu năng lực hưng thịnh khơi dậy nơi đối tượng bị trấn yểm.

Trấn yểm với khoa học hiện đại

Theo chuyên gia phong thủy Phạm Cương, các loại hình trấn yểm nói chung nên coi là kinh nghiệm trong xây dựng nhà của người phương Đông, loại bỏ những yếu tố mê tín, chúng ta cần nhìn nhận về giá trị của nó và nghiên cứu dưới góc độ khoa học. Thực tế cho thấy việc sử dụng các vật khí trấn yểm mang lại hiệu quả thiết thực trong việc cải thiện môi trường khí, mang lại sự cát lành cho ngôi nhà.

Chuyên gia phong thủy Phạm Cương.
Chuyên gia phong thủy Phạm Cương. 

Trong quá trình xây cất nhà cửa, mồ mả chúng ta có thể gặp những thế đất không tốt. Khi đó phải có những biện pháp để hóa giải. Một trong những cách hóa giải là dùng vật khí để trấn yểm.

Tác dụng chung của trấn yếm là trừ tà hóa sát, biến hung thành cát. Tuy nhiên, “trấn” và “yểm” là hai khái niệm khác nhau. Trấn là đặt các vật khí phong thủy hiện hữu trên mặt đất và nhìn thấy được còn yểm là các vật đó được đem chôn dưới đất, được gói bọc kín.

Bùa chú cũng chính là một loại hình trấn yểm. Bùa là giấy có vẽ hình hoặc viết chữ lên trên. Bùa thường do những người có công năng vẽ ra để dùng vào một mục đích cụ thể như trấn trạch, cầu an trừ tà, cầu tài lộc, chữa bệnh… Dân gian thường quan niệm sức mạnh và độ bền hoạt động của bùa chú phụ thuộc vào quyền năng của người vẽ.

Cũng theo chuyên gia Phạm Cương, trấn yểm có mối liên hệ chặt chẽ với khoa học hiện đại. Bởi thực tế, trấn yểm chính là sự tổng hòa của tri thức kiến trúc, phong thủy, khoa học, tâm linh hòng tìm và phát huy cái tốt, trừ khử cái xấu để cuộc sống con người, xã hội phát triển ổn định hơn.

Nếu nói về các hoạt động liên quan đến trấn yểm trong lịch sử Việt Nam phải kể đến các truyền thuyết về Cao Biền trấn yểm long mạch thành Đại La. Đầu tiên là truyền thuyết Cao Biền trấn yểm núi Tản Viên, với việc sử dụng đến 8 vạn cái tháp bằng đất nung để trấn yểm.

Gần đây người ta còn đào được những cái Tháp đất nung đó tại khu vực Hà Nội. Tiếp theo là truyền thuyết Cao Biền dùng hơn 4 tấn sắt, đồng… chôn để trấn yểm đền Bạch Mã là nơi vị thần sông Tô Lịch trú ngụ. Cao Biền còn nhiều lần dựng đàn tràng, dùng 4 thứ kim loại: sắt, đồng, vàng, bạc trấn yểm nhiều nơi trên bờ sông Tô Lịch. Theo sử sách, Cao Biền đã đặt Bùa trấn yểm tới 19 nơi dọc theo dòng sông này.

Ở Sài Gòn trước năm 1975 có hai công trình hình bát giác được cho là biểu tượng phong thủy để trấn yểm long mạch, đó là hồ Con Rùa, với rất nhiều giai thoại mang màu sắc huyền bí, ly kỳ xung quanh mà cho đến bây giờ khoa học vẫn chưa lý giải được hết.

“Trấn yểm không phải là điều mê tín mà nó đã tồn tại từ xa xưa rồi. Nó có mối liên hệ rất chặt chẽ với khoa học hiện đại mà chúng ta cần đi sâu nghiên cứu, bóc tách, giải thích từng vấn đề. Làm được như vậy, chúng ta mới xóa bỏ những mơ hồ tâm linh để hướng tới thực tiễn khoa học mà trấn yểm mang lại”, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Điệp, Giám đốc Trung tâm dịch thuật, dịch vụ Văn hóa và Khoa học – Công nghệ.

Ngắm chùa Ba Vàng đẹp như tranh tự phát sáng giữa trời đêm

Tọa lạc trên trên lưng chừng núi Thành Đẳng (Uông Bí, Quảng Ninh), chùa Ba Vàng đẹp như bức tranh tự phát sáng giữa trời đêm. Nơi đây trở thành địa chỉ hành hương thu hút đông đảo du khách và phật tử về đây hành lễ. 

Ngam chua Ba Vang dep nhu tranh tu phat sang giua troi dem
 Tọa lạc trên lưng chừng núi Thành Đẳng (Uông Bí, Quảng Ninh), chùa Ba Vàng được mệnh danh là ngôi chùa đẹp nhất tại Quảng Ninh khi về đêm. Ảnh: Chùa Ba Vàng.

Khoảnh khắc nghỉ ngơi hiếm hoi của người lính trong Thế chiến II

Những bức ảnh hiếm hoi dưới đây đem tới cái nhìn khác biệt về cuộc sống của những người lính trong Thế chiến thứ 2.
 

Khoanh khac nghi ngoi hiem hoi cua nguoi linh trong The chien II
Hình ảnh một người lính trong Thế chiến thứ 2 đang cho một chú chuột túi ăn. 

Khoanh khac nghi ngoi hiem hoi cua nguoi linh trong The chien II-Hinh-2
 Các cô gái Anh rót trà cho những người lính.

Đọc nhiều nhất

Tin mới