Ngày 18/9/1946, sau Hội nghị Fontainebleau không đạt kết quả như mong muốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời nước Pháp trở về Tổ quốc trên chiến hạm Dumont d’Urville của Hải quân Pháp. Cùng Người trên chuyến hải trình ấy có 4 trí thức Việt kiều: kỹ sư Phạm Quang Lễ (sau này là GS.VS, Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa), bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư luyện kim Võ Quý Huân và kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh.
Sự kiện ấy là câu chuyện cảm động về lòng yêu nước của những người con xa xứ, sẵn sàng từ bỏ cuộc sống ổn định nơi đất khách để trở về phụng sự đất nước vừa giành độc lập. Điều đặc biệt, đó còn là minh chứng sinh động cho tư tưởng trọng dụng trí thức, nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người luôn coi hiền tài là nguồn lực đặc biệt quan trọng để xây dựng và bảo vệ quốc gia.
Trong hoàn cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, từ nguy cơ chiến tranh, thiếu thốn nhân lực đến nền khoa học kỹ thuật gần như chưa có nền tảng, việc quy tụ đội ngũ trí thức đã trở thành một chủ trương mang tầm chiến lược. Bốn trí thức trở về cùng Bác năm ấy sau này đều trở thành những người đặt nền móng cho các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và y học của Việt Nam.
GS.VS Trần Đại Nghĩa, “ông vua vũ khí” được Bác Hồ đặt tên, Chủ tịch đầu tiên của VUSTA
Trong số những trí thức theo Bác về nước năm 1946, GS.VS Phạm Quang Lễ là người để lại dấu ấn đặc biệt trong lịch sử khoa học – kỹ thuật Việt Nam.
Sinh năm 1913 tại Vĩnh Long, ông sang Pháp học tập và làm việc nhiều năm, tiếp cận các ngành kỹ thuật hiện đại. Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh hoạt động tại Pháp năm 1946, Phạm Quang Lễ đã gặp Người và quyết định trở về Tổ quốc.
Sau gần 40 ngày lênh đênh trên biển, ngày 20/10/1946, ông cùng Bác Hồ và các trí thức Việt kiều cập cảng Hải Phòng. Chỉ hơn một tháng sau, ngày 5/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giao cho ông phụ trách Cục Quân giới và đặt tên mới là Trần Đại Nghĩa.
Từ những xưởng quân giới sơ khai giữa núi rừng Việt Bắc, GS.VS Trần Đại Nghĩa cùng cộng sự nghiên cứu, chế tạo nhiều loại vũ khí phục vụ kháng chiến, đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Sau này, ông tiếp tục giữ nhiều cương vị quan trọng trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, đồng thời là Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Câu chuyện GS.VS Trần Đại Nghĩa cho thấy một điều: Bác Hồ không chỉ kêu gọi trí thức trở về mà còn biết phát hiện đúng năng lực, giao đúng việc và tạo điều kiện để họ cống hiến.
BS Trần Hữu Tước, đặt nền móng cho chuyên ngành Tai Mũi Họng Việt Nam
Nếu GS.VS Trần Đại Nghĩa là biểu tượng của khoa học kỹ thuật quân sự thì bác sĩ Trần Hữu Tước là gương mặt tiêu biểu của nền y học cách mạng.
Sinh năm 1913, Trần Hữu Tước tốt nghiệp Đại học Y Paris và trở thành bác sĩ Tai Mũi Họng có uy tín tại Pháp. Ông có công việc ổn định, thu nhập cao và nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp, nhưng đã lựa chọn trở về cùng Bác Hồ năm 1946.
Ngày trở về Tổ quốc, đất nước còn nghèo khó, cơ sở y tế thiếu thốn, nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, tri thức của ông lại càng trở nên quý giá.
Một dấu mốc đặc biệt được ghi lại trong lịch sử y học là tháng 11/1946, BS Trần Hữu Tước thực hiện bài giảng đầu tiên bằng tiếng Việt ở bậc đại học tại Trường Đại học Y – Dược Hà Nội. Đây được xem là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền y học mang bản sắc Việt Nam sau Cách mạng Tháng Tám.
Sau này, ông trở thành người đặt nền móng cho chuyên ngành Tai Mũi Họng Việt Nam, đào tạo nhiều thế hệ bác sĩ, để lại dấu ấn sâu đậm trong nền y học nước nhà.
Sự lựa chọn của BS Trần Hữu Tước là minh chứng cho tinh thần yêu nước của lớp trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX: đặt vận mệnh dân tộc lên trên những điều kiện vật chất cá nhân.
Kỹ sư Võ Quý Huân, đặt nền móng ngành đúc luyện kim
Trong 4 trí thức theo Bác về nước, Võ Quý Huân có hoàn cảnh đặc biệt hơn cả. Ông sinh năm 1912 tại Nghệ An, học tập và làm việc tại Pháp trong lĩnh vực luyện kim. Khác với các trí thức khác, kỹ sư Võ Quý Huân đã có gia đình riêng với vợ người Pháp gốc Nga và một con gái nhỏ. Tuy vậy, trước lời kêu gọi của Tổ quốc, ông vẫn quyết định trở về Việt Nam.
Theo tư liệu, trước khi về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hỏi kỹ sư Võ Quý Huân về việc gia đình của ông. Chỉ khi biết ông đã thu xếp ổn thỏa, Bác mới giao nhiệm vụ tham gia xây dựng ngành cơ khí, luyện kim phục vụ kháng chiến và kiến quốc.
Những đóng góp của Võ Quý Huân sau này gắn với lĩnh vực đúc và luyện kim – một ngành rất quan trọng trong xây dựng kinh tế và công nghiệp của đất nước. Ông được xem là một trong những người đặt nền móng cho ngành luyện kim Việt Nam.
Câu chuyện của Võ Quý Huân không chỉ là câu chuyện của trí thức mà còn là câu chuyện về sự hy sinh thầm lặng của những con người chấp nhận xa gia đình để lựa chọn con đường phụng sự Tổ quốc.
Kỹ sư Võ Đình Quỳnh, ông “vua gang thép” Sài Gòn
So với ba trí thức còn lại, thông tin về kỹ sư mỏ Võ Đình Quỳnh ít được nhắc đến hơn, nhưng ông cũng là một thành viên quan trọng trong nhóm trí thức theo Bác về nước năm 1946.
Theo các tài liệu, kỹ sư Võ Đình Quỳnh sinh năm 1917 trong một gia đình nhà Nho tại làng Vạn An, xã Nghĩa Thương, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi. Ông được đào tạo về lĩnh vực khai khoáng và luyện kim, ông là “vua gang thép” Sài Gòn bởi những đóng góp trong lĩnh vực sản xuất thép. Cha ông là kỹ sư Võ Đình Thụy, chuyên ngành công chính xây dựng, từng tham gia hoạt động xã hội và có quan hệ với nhiều chí sĩ đương thời.
Sự hiện diện của kỹ sư Quỳnh trên chuyến tàu năm 1946 cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhìn xa hơn nhu cầu trước mắt. Người cần những nhà khoa học, không chỉ ở lĩnh vực quân sự, mà ở nhiều lĩnh vực khác nhau để chuẩn bị xây dựng cho tương lai của một đất nước độc lập.
Hơn 80 năm sau ngày Quốc khánh 2/9/1945, nhìn lại câu chuyện 4 trí thức theo Bác Hồ về nước, có thể thấy một bài học còn nguyên giá trị, đó là lòng yêu nước của trí thức chỉ có thể được phát huy khi đất nước biết trân trọng, tin tưởng và tạo điều kiện để nhân tài cống hiến.
Chuyến tàu Dumont d’Urville năm 1946 không chỉ đem về cho đất nước những trí thức, nhà khoa học lớn mà còn chuyên chở một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, đó là dựng xây đất nước phải bắt đầu từ việc quy tụ và trọng dụng hiền tài.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao, coi trọng vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự nghiệp cách mạng. Người khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”. Người nhấn mạnh: “Địa vị những người trí thức ái quốc Việt Nam sẽ là cùng với toàn thể đồng bào, kiến thiết một nước Việt Nam mới, một nước Việt Nam thống nhất và độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc”.