Trí thức và bài toán kiến tạo thể chế trong kỷ nguyên phát triển mới

Trong kỷ nguyên số, đội ngũ trí thức không chỉ là lực lượng sáng tạo tri thức mà còn giữ vai trò quan trọng trong tư vấn chính sách, phản biện xã hội...

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, hoàn thiện thể chế được xác định là “đột phá của đột phá”, trong đó thể chế pháp luật vừa là nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa là động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững.

Nhận diện đúng những điểm nghẽn thể chế

Các nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, cùng các nghị quyết “Bộ tứ trụ cột” và kết luận của Bộ Chính trị về định hướng lập pháp đến năm 2030 đều thống nhất một tư tưởng xuyên suốt: thể chế phải đi trước một bước, tháo gỡ các điểm nghẽn, kiến tạo phát triển và giải phóng mọi nguồn lực cho đất nước.

9919-1779347137-phan-trung-ly.jpg
GS.TS Phan Trung Lý, nguyên Chủ tịch Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. Ảnh: Mai Loan.​

Theo GS.TS Phan Trung Lý, Viện Nghiên cứu Pháp luật và Xã hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trí thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong tư vấn chính sách, phản biện xã hội và hoàn thiện thể chế pháp luật.

Trước hết, trí thức là lực lượng cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách và xây dựng pháp luật. Một đạo luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi phản ánh đúng quy luật khách quan, phù hợp thực tiễn và dự báo được xu hướng phát triển.

Với kiến thức chuyên sâu, kinh nghiệm thực tiễn và tầm nhìn chiến lược, đội ngũ trí thức giúp các cơ quan của Đảng, Quốc hội và Chính phủ nhận diện đúng những “điểm nghẽn thể chế”, đề xuất các giải pháp cải cách có cơ sở khoa học, qua đó góp phần nâng cao chất lượng lập pháp.

Không chỉ cung cấp luận cứ khoa học, phản biện xã hội của đội ngũ trí thức còn được nhìn nhận như một cơ chế kiểm soát quyền lực mềm nhưng hiệu quả. Phản biện khoa học không nhằm phủ nhận chủ trương, mà hướng tới phát hiện những bất cập, khoảng trống, mâu thuẫn của chính sách và pháp luật trước khi ban hành.

Những ý kiến phản biện khách quan, độc lập và có trách nhiệm có thể góp phần hạn chế lợi ích cục bộ, tư duy nhiệm kỳ; ngăn ngừa những quy định thiếu khả thi hoặc làm phát sinh chi phí tuân thủ không cần thiết cho người dân và doanh nghiệp.

Ở một góc độ khác, trí thức còn là cầu nối giữa Nhà nước với xã hội. Thông qua các Hội nghề nghiệp, Viện nghiên cứu, Trường đại học và các diễn đàn khoa học, trí thức tập hợp, phân tích và truyền tải tiếng nói của doanh nghiệp, người dân vào quá trình xây dựng chính sách.

Đây chính là biểu hiện của dân chủ xã hội chủ nghĩa và yêu cầu “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện đại.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, vai trò của trí thức càng trở nên cấp thiết. Những vấn đề pháp lý mới như dữ liệu, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, tài chính xanh, kinh tế tuần hoàn... đòi hỏi sự tham gia của đội ngũ chuyên gia đa ngành để xây dựng các chính sách có tính dự báo, tránh tình trạng pháp luật luôn đi sau thực tiễn.

Pháp luật không thể luôn đi sau công nghệ

Vai trò của trí thức không chỉ dừng lại ở nghiên cứu khoa học hay giảng dạy, mà đã mở rộng thành lực lượng tiên phong trong kiến tạo thể chế, tư vấn chính sách, phản biện xã hội và dẫn dắt đổi mới sáng tạo.

Trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí thức là chủ thể sáng tạo tri thức mới, nghiên cứu công nghệ lõi, phát triển các nền tảng số, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đối với Việt Nam, phát triển các ngành công nghệ số, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, công nghệ sinh học, năng lượng mới... đều đòi hỏi đội ngũ trí thức có trình độ chuyên môn cao, tư duy toàn cầu và năng lực đổi mới sáng tạo. Không có đội ngũ trí thức mạnh thì khó có thể xây dựng nền kinh tế số độc lập, tự chủ và có sức cạnh tranh quốc tế.

Một thách thức đáng chú ý là công nghệ luôn phát triển nhanh hơn pháp luật. Dữ liệu được nhìn nhận như một tài nguyên mới; bên cạnh đó xuất hiện các vấn đề về tài sản số, tài sản được mã hóa (token hóa), trí tuệ nhân tạo, giao dịch xuyên biên giới, quyền riêng tư dữ liệu, đạo đức AI, kinh tế nền tảng...

Những vấn đề này đòi hỏi khung pháp lý phù hợp. Đây cũng là lĩnh vực mà đội ngũ trí thức pháp lý, kinh tế, công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu, tư vấn chính sách, phản biện xã hội và tham gia xây dựng pháp luật.

Một nền pháp luật hiện đại không chỉ bảo đảm quản lý nhà nước mà còn phải tạo không gian cho sáng tạo, khuyến khích thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới và giảm tối đa chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.

Theo GS.TS Phan Trung Lý, điều đó chỉ có thể đạt được khi quá trình xây dựng pháp luật được hỗ trợ bởi tri thức khoa học, các bằng chứng thực tiễn và phản biện khách quan.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu quản trị quốc gia ngày càng dựa trên dữ liệu và bằng chứng. Các quyết sách lớn không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý mà cần được xây dựng trên cơ sở phân tích khoa học, dự báo dài hạn và đánh giá tác động toàn diện.

Đội ngũ trí thức có vai trò cung cấp luận cứ khoa học, tham gia tư vấn chiến lược phát triển quốc gia, phản biện các dự án luật, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư lớn và các chính sách liên quan đến chuyển đổi số, kinh tế số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo.

Hoạt động tư vấn và phản biện xã hội của trí thức không chỉ giúp hạn chế những chính sách thiếu tính khả thi mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, khách quan và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Trong nền kinh tế tri thức, giá trị gia tăng không còn chủ yếu được tạo ra từ tài nguyên thiên nhiên mà từ tri thức, sáng tạo và công nghệ. Các quốc gia có năng lực cạnh tranh cao đều sở hữu hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển, trong đó đội ngũ trí thức là trung tâm.

Thông qua nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp, đội ngũ trí thức góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đặc biệt, trong khu vực kinh tế tư nhân - một động lực quan trọng của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị - đội ngũ trí thức là lực lượng trực tiếp tạo ra các sản phẩm công nghệ, mô hình kinh doanh mới và các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Hội nhập quốc tế không chỉ là mở rộng thương mại hay thu hút đầu tư mà còn là quá trình tiếp thu, chuyển giao và sáng tạo tri thức mới.

Đội ngũ trí thức Việt Nam trong và ngoài nước là cầu nối quan trọng đưa những thành tựu khoa học tiên tiến của thế giới vào Việt Nam, đồng thời quảng bá các giá trị văn hóa, tri thức và thành tựu phát triển của Việt Nam ra thế giới.

Trong quá trình tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các cam kết quốc tế về chuyển đổi số, thương mại điện tử, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ, môi trường và phát triển bền vững, đội ngũ trí thức đóng vai trò tư vấn, tham mưu và hỗ trợ nội luật hóa các cam kết quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Cần cơ chế để trí thức phát huy vai trò

Để trí thức thực sự trở thành lực lượng tiên phong trong phát triển đất nước, nhất là trong tư vấn, phản biện xã hội và hoàn thiện thể chế pháp luật, tài liệu đề xuất triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. GS.TS Phan Trung Lý cho rằng, cần phải tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển đội ngũ trí thức theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết của Bộ Chính trị; xây dựng môi trường pháp lý khuyến khích sáng tạo, bảo vệ quyền tự do nghiên cứu khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và cơ chế thử nghiệm chính sách (sandbox) đối với các mô hình công nghệ mới.

Cùng với đó là đổi mới mạnh mẽ cơ chế sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng trí thức, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang quản trị theo kết quả, sản phẩm và hiệu quả cống hiến; tạo điều kiện để trí thức tham gia nhiều hơn vào quá trình xây dựng pháp luật, hoạch định chính sách và phản biện xã hội.

Một nhiệm vụ khác là xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và các chuyên gia; phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm dữ liệu và nền tảng nghiên cứu mở.

Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, đổi mới căn bản giáo dục đại học và đào tạo sau đại học; ưu tiên các ngành khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ sinh học, luật số và quản trị số; nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ trí thức hiện có.

GS.TS Phan Trung Lý cũng nhấn mạnh việc phát huy vai trò của các tổ chức tập hợp trí thức, nhất là các hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức tư vấn chính sách; xây dựng cơ chế để các ý kiến phản biện khoa học được tiếp thu thực chất trong quá trình xây dựng pháp luật và hoạch định chính sách.

Cùng với đó là mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài, tạo cơ chế linh hoạt để các chuyên gia tham gia nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách và đào tạo nguồn nhân lực; tăng cường hợp tác với các trung tâm khoa học hàng đầu thế giới.

Trong kỷ nguyên số, đội ngũ trí thức không chỉ là lực lượng sáng tạo tri thức mà còn là chủ thể kiến tạo thể chế, dẫn dắt đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Nếu trong các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, vốn và tài nguyên quyết định sức mạnh của một quốc gia thì ngày nay chính tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực mới là yếu tố quyết định vị thế phát triển.

Vì vậy, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức phải trở thành một chiến lược quốc gia lâu dài, gắn chặt với quá trình hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Cần cơ chế để trí thức phản biện chính sách thực chất hơn

Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam cho rằng, cần đổi mới mạnh mẽ nhằm phát huy hiệu quả trí tuệ đội ngũ trí thức trong hoạch định chính sách, quy hoạch.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có mức thu nhập cao vào năm 2045. Theo TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, để hiện thực hóa mục tiêu này, cần đổi mới toàn diện mô hình tăng trưởng, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phải trở thành những động lực then chốt.

Hoạt động phản biện vẫn còn nặng tính hình thức

Quy hoạch đô thị Việt Nam: Từ phản biện sang tư vấn chủ động

KTS. Trần Ngọc Chính cho rằng tư duy quy hoạch cần chuyển từ cách tiếp cận tương đối tĩnh sang linh hoạt, thích ứng...

Trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số, mô hình chính quyền địa phương hai cấp và biến đổi khí hậu đặt ra những yêu cầu mới, KTS. Trần Ngọc Chính cho rằng, tư duy quy hoạch cần chuyển từ cách tiếp cận tương đối tĩnh sang linh hoạt, thích ứng; từ dựa chủ yếu trên hiện trạng và dự báo sang dựa trên dữ liệu; từ phát triển đơn ngành sang tích hợp đa ngành, liên vùng.

Tham luận của KTS Trần Ngọc Chính, Chủ tịch Hội Quy hoạch Phát triển đô thị Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng, trình bày tại Đại hội IX Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

GS.VS Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Viện 69

Nhân kỷ niệm 81 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2026) và ngày giỗ lần thứ 57 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 2/9, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng đoàn công tác đã thành kính dâng hương tưởng niệm Người tại Viện 69, Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong không khí trang nghiêm, thành kính, GS.VS Châu Văn Minh cùng các thành viên trong đoàn đã dành phút tưởng niệm, dâng hương bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ thiên tài của Đảng và Nhân dân Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất, Người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của Nhân dân.

gs-chau-van-minh.jpg
Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tại nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đọc nhiều nhất

Tin mới