- Làng Giàn (Trung Kính Hạ, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) là một trong số những ngôi làng cổ xưa nhất của Hà Nội. Ngôi làng không chỉ nổi tiếng lắm thóc lúa với câu ca "Lúa làng Giàn, quan làng Mọc" mà còn gắn với nghề làm hương nức tiếng xa gần. Kiêng màu vàng và trắng
Ông Nguyễn Đình Việt, Trưởng Ban Quản lý di tích thôn Trung Kính Hạ cho hay, làng Trung Kính Hạ tên Nôm là làng Giàn, vốn từ làng Kính Chủ, tức Trung Kính tách ra. Theo thần phả thì làng có từ thời Hùng Vương. "Chuyện rằng đời Duệ Vương - thời Hùng Vương có 20 người con trai và hai cô con gái. Các con trai đều mất sớm, còn hai con gái thì một gả cho Thánh Tản Viên, một lấy Chử Đồng Tử. Khu vực phía Bắc thành có vị quan trưởng một châu thuộc dòng dõi vua đẻ được một người con trai, đặt tên là Nộn. Lớn lên, chàng Nộn là một trong những tướng giỏi của Duệ Vương.
Vì không có con trai, Duệ Vương định truyền ngôi cho con rể là Thánh Tản Viên. Hay tin, một người có dòng dõi Vua Hùng bên Ai Lao đem quân quay trở về đánh. Duệ Vương cử chàng Nộn cùng Thánh Tản Viên đem quân ra chặn lại cuộc xâm lấn này. Khi đến vùng đất của làng thấy địa thế rất đẹp, chàng Nộn liền cho đóng quân ở đây rồi lấy người vợ hai ở ngay trong làng. Sau, chàng lại tiếp tục hành quân đánh giặc. Khi chiến thắng, trở về qua đây thì "hóa".
Xét thấy việc dân làng cũng tham gia nghĩa quân của chàng Nộn nên Duệ Vương đã cho lập đền thờ chàng Nộn ngay tại làng, giao cho dân làng việc trông coi, thờ cúng. Đồng thời, vua cũng phong cho chàng là Quốc vương đại thần".
Cũng theo ông Việt, trước đây, vào những ngày lễ thánh, người trong làng tuyệt đối không được dùng đồ màu trắng và vàng. Mâm cỗ cúng, hoa quả cũng không được có hai màu này. Hỏi về tích xưa, ông Việt xua tay. "Có thể màu trắng là màu của tang tóc, còn màu vàng là màu tượng trưng cho vua", ông Việt phỏng đoán.
Ngày lễ chỉ cúng lợn đen tuyền
Không ai nhớ phong tục cúng lợn đực đen tuyền trong các ngày lễ, Tết của người dân Kẻ Giàn có từ bao giờ. Trong các tài liệu lịch sử mà chúng tôi thu thập được cũng không ghi chép cụ thể về lịch sử của phong tục cúng lợn đen tuyền. Tuy nhiên, những câu chuyện dân gian về phong tục này vẫn còn in sâu trong trí nhớ của mỗi người dân Kẻ Giàn.
Ông Việt kể: Trước năm 1945, ở làng Giàn chỉ làm nông nghiệp. Trong chăn nuôi, người dân chỉ nuôi loại lợn ỉ có bụng phệ, màu lông và da đen. Giống lợn này đã gắn bó với người dân làng Giàn từ hàng trăm năm thậm chí hàng ngàn năm. Chính vì thế mà trong những ngày lễ tết thứ đồ cúng duy nhất có màu đen tuyền là thịt lợn ỉ. Người dân quan niệm, phải cúng thịt lợn đen tuyền để cầu mong thần linh phù hộ cho công việc chăn nuôi được "xuôi chèo mát mái", lợn sinh sản nhiều và chống được dịch bệnh. Người dân phải nuôi một con lợn đực đen tuyền để cúng vào những ngày lễ làng. Việc nuôi lợn cúng được phân công cho từng hộ dân trong làng, mỗi hộ tiến lợn cúng làng một năm, hết vòng này đến vòng khác.
Ở khu vực Hà Nội, chỉ có một số ít làng chuyên về chăn nuôi mới có phong tục này. Những làng khác như làng Cót, làng Láng, Dịch Vọng... người dân chủ yếu sống bằng buôn bán, thương nghiệp nên phong tục đã khác.
Phong tục cúng lợn đen được duy trì cho đến năm 1954 khi đánh thắng thực dân Pháp. Lúc đó, ngôi đình chuyên để thờ cúng của làng Giàn bị giặc tàn phá nên người dân không có chỗ để thờ cúng, phong tục cúng lợn đen cũng mất luôn từ đó. Sau này, khi kinh tế phát triển hơn, những giống lợn khoang, lợn trắng được du nhập về đây để nuôi, chính vì thế mà người dân không còn lợn đen để cúng tế thần linh trong những ngày lễ, Tết nữa.
Còn đình thờ tổ, còn nghề làm hương
Nằm ven bờ sông Tô Lịch, thuận lợi cho tưới tiêu nên sản xuất nông nghiệp của làng rất phát triển. Chẳng thế mà có câu ca "lúa làng Giàn, quan Kẻ Mọc". Thế nhưng, nghề làm hương của làng cũng nổi tiếng không kém.
Nghề làm hương có từ bao giờ, những người già trong làng như ông Nguyễn Văn Mại, 80 tuổi cũng không biết. Ngay giữa làng có đền thờ ông tổ nghề nhưng cũng chẳng rõ tên. Chỉ biết là, nhờ có nghề mà nhiều người dân trong làng đã đỡ vất vả. Thế nhưng, có lẽ còn một điều mà những người như ông Mại vẫn tự hào về nghề truyền thống của làng mình khi nó đã được chuyên môn hóa từ rất sớm.
Ông Mại làm nghề từ năm còn 6, 7 tuổi. Trong ký ức của ông thì khoảng nửa thế kỷ trước, làng Giàn như một "đại xưởng" làm hương và chia ra những khâu chuyên biệt. "Ngày ấy, nhà tôi làm tăm hương thì chỉ vót tăm thôi, sau bán cho nhà làm hương trong làng. Rất ít nhà làm cả hai công đoạn như thế", ông Mại cho hay.
Ông Nguyễn Đình Việt từng làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp Trung Hòa trong những năm 1974 - 1980. Ông kể, ngày ấy, ông cùng cán bộ hợp tác xã thường xuyên đi đặt mối hàng về cho bà con. Ngày công không nhiều nhưng cũng đủ để người dân trong làng tạm gọi là "có của ăn".
Hương làng Giàn bán cho các làng trong khu vực Hà Nội. Sau này, làng còn mở làm thêm hương đen, gửi bán tận trong Huế.
Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Nhà nước xóa bỏ cơ chế bao cấp. Hợp tác xã cũng tan rã. Nghề làm hương mai một dần. Bây giờ, số hộ làm nghề trong làng chỉ còn đếm trên đầu ngón tay, họ cũng không làm tại làng mà chuyển cơ sở đi nơi khác. Việc làm hương cũng đã nhàn hơn vì có máy, ngày công cũng cao hơn.
Về làng Trung Kính Hạ tìm lại dấu tích của một nghề truyền thống xưa đã không còn. Thế nhưng, với những người như ông Việt, ông Mại và cả những người già trong làng, còn đình thờ tổ nghề thì nghề làm hương sẽ còn với thời gian.