Hán Vũ Đế trị vì 54 năm, vì sao lại dùng tới 44 năm để đánh nhau với Hung Nô?

Hán Vũ Đế Lưu Triệt trị vì suốt 54 năm, trong đó có tới 44 năm liên tục tiến hành chiến tranh chống Hung Nô. Vì sao ông kiên trì tấn công Hung Nô đến như vậy?

Hán Vũ Đế Lưu Triệt trị vì suốt 54 năm, trong đó có tới 44 năm liên tục tiến hành chiến tranh chống Hung Nô. Vì sao ông lại kiên trì tấn công Hung Nô đến như vậy? Đằng sau quyết định ấy thực chất ẩn chứa những nguyên nhân sâu xa nào?

Chính sách hòa thân thất bại

Trước đó, giữa nhà Hán và Hung Nô vốn duy trì hòa bình bằng chính sách hòa thân. Bắt đầu từ thời Lưu Bang cho tới thời Hán Cảnh Đế, triều Hán nhiều lần gả công chúa sang Hung Nô để kết thân, đồng thời cung cấp cho họ rất nhiều vật tư và hàng hóa do người Hán sản xuất.

Hán Vũ Đế.
Hán Vũ Đế.

Ban đầu, chính sách hòa thân quả thực có tác dụng duy trì hòa bình. Nhưng đến thời Hán Văn Đế, Hung Nô vừa tiếp tục hòa thân với nhà Hán, vừa ba lần phát động các cuộc xâm lược quy mô lớn. Thậm chí có lần còn khiến Hán Văn Đế suýt phải thân chinh ra trận.

Đến thời Hán Cảnh Đế, Hung Nô tuy có phần yên ổn hơn, nhưng lại dính líu tới loạn Thất quốc, gây tổn thất rất lớn cho chính quyền Tây Hán.

Có thể thấy rõ rằng Hung Nô một mặt nhận lợi ích từ chính sách hòa thân, mặt khác vẫn luôn tìm cơ hội xâm nhập Trung Nguyên để cướp bóc tài sản.

Trong hoàn cảnh ấy, hòa thân rõ ràng đã mất đi ý nghĩa duy trì hòa bình, thậm chí trở thành một chính sách ngoại giao đầy bất cập và kém hiệu quả.

Khi Hán Vũ Đế Lưu Triệt lên ngôi, nhà Tây Hán cuối cùng đã phát động những đòn tấn công mạnh mẽ nhằm vào Hung Nô. Và một khi đã khai chiến, ông đánh liên tục suốt 44 năm. Bởi xét cả về tâm lý lẫn thực lực khách quan, Hán Vũ Đế đều đã có đầy đủ lý do để phát động chiến tranh với Hung Nô.

Nguyên nhân đầu tiên khiến Hán Vũ Đế nghiêng hẳn về chủ trương chủ chiến chính là vì chính sách hòa thân đã thất bại.

Hán Vũ Đế có 44 năm liên tiếp tiến đánh Hung Nô.
Hán Vũ Đế có 44 năm liên tiếp tiến đánh Hung Nô.

Không khó để nhận ra rằng từ đầu thời Tây Hán, các đời hoàng đế đều áp dụng chính sách hòa thân nhưng vẫn không đổi lại được hòa bình thật sự. Sau hàng loạt bài học ấy, Hán Vũ Đế làm sao còn có thể đặt niềm tin vào hòa thân?

Hung Nô nhiều lần yêu cầu kết thân với nhà Hán nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ giữ gìn hòa bình, hoàn toàn thiếu chữ tín. Về mặt tình cảm, Lưu Triệt càng muốn dùng chiến tranh để “ăn miếng trả miếng”, thanh toán tận gốc mối thù tích tụ giữa Tây Hán và Hung Nô.

Nguyên nhân thứ hai khiến Hán Vũ Đế quyết tâm khai chiến là mong muốn mở rộng lãnh thổ.

Phần lớn các hoàng đế trong lịch sử đều hy vọng xây dựng cơ nghiệp muôn đời cho con cháu, còn việc khai cương mở đất cũng là lý tưởng mà nhiều đế vương theo đuổi suốt đời.

Đối với Hán Vũ Đế, tấn công Hung Nô không chỉ giúp ổn định biên cương và giải quyết mối họa phương Bắc, mà còn giúp nhà Hán mở rộng lãnh thổ, xây dựng một đế quốc rộng lớn hơn, qua đó lập nên công lao bất thế.

Trên thực tế, tư tưởng chủ chiến này có lẽ Hán Văn Đế và Hán Cảnh Đế cũng từng có. Chỉ là vào thời của hai vị hoàng đế ấy, nhà Hán vẫn chưa đủ điều kiện khách quan để phát động chiến tranh quy mô lớn với Hung Nô. Nhưng tới thời Hán Vũ Đế, mọi điều kiện cần thiết đã dần chín muồi.

Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
Hán Vũ Đế Lưu Triệt.

Vào đầu thời Tây Hán, quốc lực còn suy yếu, không đủ sức chống Hung Nô. Ngay cả khi có thể giành chiến thắng thì chiến tranh cũng sẽ tạo ra gánh nặng kinh tế khổng lồ.

Khi mới lập quốc, xe ngựa của Lưu Bang thậm chí còn không đủ bốn con ngựa cùng màu để kéo xe, điều đó cho thấy số lượng chiến mã khan hiếm đến mức nào. Nhưng tới thời Hán Vũ Đế, ngựa trong dân gian đã nhiều vô kể, vấn đề chiến mã cũng được giải quyết.

Đồng thời, vào thời kỳ này, lương thực và vật tư tích trữ trong quốc khố cũng vô cùng dồi dào, giúp nhà Hán có đủ tiềm lực quân sự lẫn kinh tế để tiến hành chiến tranh với Hung Nô.

Khi trong lòng đã quyết tâm đánh Hung Nô, còn quốc gia lại đã đủ mạnh để khai chiến, thì Hán Vũ Đế sao có thể dễ dàng bỏ qua?

Đối với Lưu Triệt, việc tiêu diệt Hung Nô gần như đã trở thành khát vọng cả đời. Và một khi đã bắt đầu, ông cũng không còn muốn dừng lại nữa.

Năm 129 TCN, quân Hung Nô xâm lấn vào vùng Thượng Cốc của nhà Hán.[26] Hán Vũ Đế bèn cử 4 vạn quân chia làm bốn đường, do Vệ Thanh, Công Tôn Hạ, Công Tôn Ngao và Lý Quảng chỉ huy ra chống, tuy nhiên rốt cục bị thiệt hại nặng nề và thất bại.

Sang năm 127 TCN, Hán Vũ Đế cử Vệ Thanh và Lý Tức ra Vân Trung, tiến thẳng đến vùng Phù Lý, đánh bại và tiêu diệt hai đạo quân Hung Nô do Bạch Dương Vương và Lâu Phiền Vương chỉ huy, chém và bắt sống hơn 1000 người, thu phục và sáp nhập vùng đất Hà Sáo của Hung Nô mà gần như không mất một binh sĩ nào, toàn quân khải hoàn trở về. Chiến thắng này đã góp phần giải quyết được mối đe dọa đối của Hung Nô với kinh đô Trường An. Tại vùng Hà Sáu, nhà Hán cho thiết lập quận Sóc Phương. Năm sau, Hán Vũ Đế lại sai Tô Kiến đem theo 10 vạn người tu bổ Trường Thành để ngăn chặn Hung Nô.

Năm 121 TCN, Hán Vũ Đế muốn thực hiện kế hoạch đánh chiếm khu vực Hà Tây của Hung Nô để làm bàn đạp tiến công lên phía bắc để đẩy quân Hung Nô ra khỏi Trung Nguyên. Ông cử Hoắc Khứ Bệnh đem quân lên phía bắc. Ông chỉ huy một đội kỵ binh nhẹ gồm 1 vạn phiêu kị quân tiến về phía tây của Lũng Tây và trong vòng 6 ngày đã tiến sâu vào 1000 dặm qua 5 tiểu quốc của Hung Nô, giết 9000 quân Hung Nô và bắt được hơn 1000 người.

Sang mùa hè năm đó, Hoắc Khứ Bệnh lại vượt sa mạc và giao tranh với quân Hung Nô trên núi. Quân Hán nhanh chóng nắm ưu thế, tiêu diệt hơn 30000 quân Hung Nô, nhưng cũng bị tổn thất 2800 người, buộc Hung Nô đầu hàng. Nhà Hán chiếm được nhiều đất đai của Hung Nô và thành lập quận huyện ở đó.

Sang mùa xuân năm 119 TCN, Hán Vũ Đế lại cử Vệ Thanh cùng Hoắc Khứ Bệnh mỗi người dẫn 5 vạn kị quân thành hai đường đánh Hung Nô, lại cho hơn 14 vạn ngựa chiến và 50 vạn bộ tốt và hậu cần tiến về sa mạc Gobi. Quân Hán tiến vào Đại Quận, đánh bại quân của Tả Hiền Vương, buộc ông này phải đem 4 vạn quân đầu hàng nhà Hán. Sau đó Vệ Hoắc mỗi người chia quân theo hai phía đông-tây, cánh của Hoắc Khứ Bệnh tiến đánh Đại quận, còn cánh của Vệ Thanh đi về phía đông, thu phục Định Tương. Quân Hán giành được thắng lợi, tiêu diệt 8-9 vạn quân Hung Nô, bắt được Tả Hiền Vương và 86 quý tộc.

Xử tội Lý Lăng và Tư Mã Thiên

Sau trận mạc bắc, quân Hán cơ bản đã giải quyết xong nạn uy hiếp của Hung Nô. Tuy nhiên hai bên vẫn tiếp tục xảy ra xung đột. Vào năm 115 TCN, người Hán tiếp tục lấn át và lập huyện trên đất Hung Nô. Sang năm 112 TCN, Hung Nô liên kết với người Khương tiến công vào quân Ngũ Nguyên, giết chết quan thái thú ở đó. Để đối phó, sang năm 111 TCN, Hán Vũ Đế cho 18 vạn quân đi về phía bắc để gây sức ép với Hung Nô.

Năm 99 TCN, tướng quân Lý Quảng Lợi được lệnh đem 300.000 quân lên phía bắc, giao chiến với Hữu hiền vương của Hung Nô ở Kỳ Liên Sơn. Một tướng khác là Lý Lăng đem quân bộ cùng năm nghìn người thiện xạ qua phía Bắc Cư Duyên chừng hơn nghìn dặm.

5.000 quân của Lăng bị 80.000 quân Hung Nô bao vây. Trước tình thế tuyệt vọng, tên bắn đã hết, lính chết quá nửa, nhưng giết hại quân Hung Nô cũng hơn vạn người, sau đó Lý Lăng vừa rút lui vừa đánh tám ngày liền. Nhưng trên đường về thì lại bị quân Hung Nô chặn đứt lối đường. Quân Lăng thiếu ăn mà cứu binh không tới. Lý Lăng bất đắc dĩ phải đầu hàng Hung Nô. Hán Vũ Đế nghe tin, giết mẹ và vợ con Lăng. Quan thái sử Tư Mã Thiên ra sức can ngăn nên bị bỏ ngục và bị cung hình (thiến).

Giảng hòa, tái lập hòa bình

Sang năm 90 TCN, Lý Quảng Lợi lại đem quân chinh phạt vùng Ngũ Nguyên. Tuy nhiên cùng lúc ở kinh thành, Hán Vũ Đế nghi ngờ ông ta có âm mưu lập Xương Ấp vương làm thái tử nên bỏ ngục vợ ông ta. Lý Quảng Lợi mất tinh thần, nên không thể địch lại Hung Nô. Quân Hán thiệt hại nặng, thương vong hơn 10.000 người. Tư trị thông giám cũng lên tiếng chê trách việc làm này của Hán Vũ Đế.

Sau thất bại này, Hung Nô đã đưa yêu sách ép nhà Hán phải cống nạp cho mình 10.000 thạch mễ tửu, 5.000 hộc lương thực, nhưng Hán Vũ Đế không chấp nhận và ra lệnh phòng thủ nghiêm ngặt.

5 vị vua Trung Quốc trị vì lâu nhất khiến hậu thế kinh ngạc

Ngai vàng Trung Hoa đổi chủ không ngừng, nhưng có 5 vị vua vững ngôi hơn 50 năm, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử phong kiến kéo dài hàng ngàn năm.

5 hoàng đế tại vị hơn 50 năm trong lịch sử Trung Quốc gồm những ai?

Sau khi Tần vương nhất thống Trung Quốc liền cho rằng đức của mình hơn cả Tam Hoàng (ba ông vua trong truyền thuyết cổ đại Trung Quốc là Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng), công vượt qua cả Ngũ Đế (Năm ông vua trong truyền thuyết Trung Quốc là Hoàng Đế, Chuyên Húc, Đế Cốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn) liền dùng chữ Hoàng đế để chỉ người thống trị cho nhất Hoa Hạ (tên cũ của Trung Quốc). Ông là người đứng đầu quốc gia gọi là Thủy Hoàng Đế. Từ "Hoàng đế" này sau đó được sử dụng trong hơn hai nghìn năm cổ đại phong kiến. Từ thời Tần Thủy Hoàng mà tính đi thì hơn hai ngàn năm ròng rã của lịch sử, Trung Quốc đã có hơn 400 vị Hoàng đế xuất hiện.

Giải mã khả năng kiếm tiền siêu đẳng của Càn Long thời Thanh thịnh

Phía sau cuộc sống xa hoa tột đỉnh, Càn Long vẫn tạo nên nguồn thu bền vững, khiến hậu thế kinh ngạc về khả năng điều hành tài chính của ông.

Ngoài hưởng lạc, Càn Long còn kiếm tiền giỏi thế nào?

Hậu thế truyền tai nhau rằng lịch sử Trung Quốc có 2 vị Hoàng đế rất biết xài tiền và tiêu tiền nhiều đến mức khiến quốc khố rỗng tuếch.

Lưu Bang chết, 8 con trai của ông bị Lã Hậu ra tay thế nào?

Lưu Bang có 8 con trai, trưởng tử Lưu Phì, thứ tử Lưu Doanh, tam tử Lưu Như Ý, tứ tử Lưu Hằng, ngũ tử Lưu Khôi, lục tử Lưu Hữu, thất tử Lưu Trường...

Con trai thứ trưởng Lưu Phì

Lưu Phì là con trai trưởng của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Khi Lưu Bang lúc còn làm đình trưởng lấy người con gái họ Tào, sinh ra Lưu Phì nhưng không lập làm chính thất, mà lập người vợ khác là Lã Trĩ.

Đọc nhiều nhất

Tin mới