Độc chiêu trấn giữ Hoàng Sa của vua Minh Mạng

Minh Mạng đã cho lực lượng thủy quân của mình quản lý, khẳng định chủ quyền rõ ràng trên các hải đảo, nhất là tại các khu Vạn lý Hoàng Sa.

Từ xa xưa, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được người Việt phát hiện, xác lập chủ quyền, quản lý, khai thác.
Đến thời Minh Mạng trị vì, nước ta trở thành một quốc gia cường thịnh, các nước lân bang đều nể phục, các nước phương Tây xa xôi cũng nhiều lần đến xin thông hiếu. Với sức mạnh và vị thế đó, Minh Mạng đã cho lực lượng thủy quân của mình tiếp tục quản lý, khẳng định chủ quyền một cách rõ ràng trên các hải đảo, nhất là tại các khu Vạn lý Hoàng Sa (tên gọi chung và phổ biến trước đây về 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa).
Minh Mạng là vị hoàng đế tiến hành cuộc cải cách lớn nhất triều Nguyễn. Cuộc cải cách của ông được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, trong đó có việc cải tiến kỹ thuật đóng thuyền cho cư dân đi biển. Bên cạnh đó, không chỉ chú trọng gia tăng số lượng, mà nhà vua còn cho tăng chủng loại tàu thuyền. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, năm Mậu Tý (1828) vua định ngạch các hạng thuyền (ấn định số lượng các loại thuyền cần đóng) ở các địa phương.
Tinh thần hướng đến tiến bộ mới của Minh Mạng được sử sách ghi nhận rõ, ví dụ cuốn Quốc sử di biên cho biết vào tháng 4 năm Canh Dần (1830) “vua nghe nói ngoại quốc có xe hỏa, tàu thủy và nhiều vật lạ, sai lũ (Đặng) Khải đi Lã Tống, Tây dương để mua”.
Quy chế thủy quân cũng được Minh Mạng cải tiến, ông định kích thước và kiểu dáng cho từng hạng thuyền, thống nhất trong phạm vi cả nước để các xưởng thuyền theo các quy thức đó mà đóng cho chuẩn. Đặc biệt, Minh Mạng đã cho đóng thuyền bọc đồng theo mẫu của người Pháp, vào năm Nhâm Ngọ (1822), vua cho mua một chiếc thuyền bọc đồng của Pháp đưa về Huế, đặt tên là Điện Dương, để làm mẫu cho các xưởng đóng thuyền tại kinh đô nghiên cứu, triển khai đóng theo mẫu thuyền này.
Sách Khâm định Đại Nam thực lục cho biết tháng 6 năm ấy, vua “sai Thống chế thủy sư Phan Văn Trường coi đóng thuyền hiệu theo kiểu Tây dương”. Chiếc thuyền bọc đồng đầu tiên hoàn thành được đặt tên là Thụy Long; sau đó hàng hoạt thuyền bọc đồng được đóng thêm chủ yếu là thuyền chiến, một số là thuyền dùng trong các chuyến công cán ở nước ngoài.
Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết thuyền bọc đồng được phân thành 4 hạng khác nhau là hạng rất lớn, hạng lớn, hạng vừa, và hạng nhỏ. Ngoài thuyền bọc đồng, năm Mậu Tuất (1838) Minh Mạng cho mua một chiếc tàu máy hơi nước cũ của Pháp đem về tháo ra nghiên cứu để lấy mẫu đóng thử.
Đến tháng 4 năm sau, chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên của nước ta đóng xong và chạy thử thành công. Tháng 10 cùng năm đó, chiếc tàu máy hơi nước thứ 2 cũng được hoàn thành. Từ đó, vua xây dựng quy thức đóng tàu máy hơi vào năm Canh Tý (1840) với “thân rộng 7 thước 5 tấc, dài trên dưới 4 trượng, nhưng thân không quá sâu, khoảng 1 trượng, để dễ dàng di chuyển trên các sông, biển” (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).
Vua Minh Mạng (1820 - 1841).
Vua Minh Mạng (1820 - 1841).
Sự quan tâm đặc biệt của Minh Mạng với ngành đóng thuyền không chỉ phục vục mục đích kinh tế, giao thương, phát triển công nghệ mà còn nhằm xây dựng lực lượng thủy quân hùng hậu, có sức mạnh và khả năng lớn trong việc xác lập, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Thậm chí vào năm Kỷ Hợi (1839) ông còn ra lệnh tham khảo các tài liệu phương Tây để soạn sách dạy thủy chiến, bản đồ thủy chiến sau đó cho quân lính thao diễn, luyện tập.
Nhà vua còn truyền bảo với Binh bộ thượng thư Trương Đăng Quế rằng: “Trẫm muốn các ngươi trù tính kỹ càng, làm thành quyển sách thủy chiến, giao cho quân lính ngày đêm học tập, đó mới là cách phòng bị trước khi có việc”.
Vua Minh Mạng còn căn dặn: “Bờ cõi nước ta, chạy dài ven biển, phái quân đi tuần bể, có nhiều đường ngách, hoặc phải bỏ thuyền mà đánh trên bộ, hoặc phải dời dinh mà vây dưới nước. Như thế thời bộ binh cần phải biết cách đánh dưới nước, thủy binh cũng cần phải biết cách đánh trên bộ, cần dụ các viên Thống quản ở kinh sức cho quân lính dưới quyền, cố gắng diễn tập sao cho hết thảy đều tinh, nên người quân mạnh” (Minh Mạng chính yếu).
Năm Canh Tý (1840) cuộc tập trận có mục tiêu giả định lần đầu tiên được tiến hành, theo sử sách nhà Nguyễn ghi lại, vua đã định phép thao diễn thuỷ sư như một cuộc tập bắn trên biển với diễn biến như sau: “Một cái bè nổi giả làm hình thuyền, dài độ 3 trượng, ngang hơn 1 trượng, dựng phên nứa làm giả lá buồm được dựng lên. Đặt bè ở biển hoi xa bờ, xung quanh thả neo để khỏi bị trôi. Những thuyền tham gia diễn tập đậu cách bè chừng 50 trượng, tất cả đều chỉnh tề đợi lệnh.
Khi thành Trấn Hải treo cờ đỏ thì cuộc thao diễn bắt đầu, các thuyền đều nhỏ neo kéo thuyền chạy về phía bè. Khi đến quãng giữa thì thuyền đến trước sẽ mang súng hồng y lên ngắm vào bè nổi, bắn liền 3 phát rồi tiến quá phía trước bè ngoài 500 trượng lại quay trở về.
Các thuyền đi tiếp sau cũng làm như thế, khi trở về thanh thuyền đi trước, khi đến chỗ tiêu chuẩn bè nổi ở trung gian lại bắn súng như trước và chèo thuyền về chỗ bày hàng ban đầu. Lại thuyền buôm tiến lên bắn súng như trước. Bắn xong 3 đợt thì cờ trên thành Trấn Hải hạ xuống, truyền lệnh thu quân, các thuyền cuốn buồm và hạ neo”.
Trước đó, vào năm Giáp Ngọ (1834) vua đã cho xây dựng pháo đài phòng thủ trên một số hòn đảo trọng yếu, đồng thời lệnh cho quan chức các địa phương nơi có dân cư sinh sống tại các đảo, bãi ngoài biển phải dùng tiền công quỹ đóng thuyền do họ đi lại và cấp cả gươm giáo, súng đạn để phòng bị giặc biển. Hai năm sau, vào năm năm Bính Thân (1836) Minh Mạng ban quy định về lệ tuần biển để đánh đuổi cướp biển, thuyền ngoại quốc có ý đồ xâm phạm hải đảo của quốc gia.
Để biết rõ hơn về các đảo thuộc Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa và Trường Sa), theo sách Đại Nam thực lục chính biên, năm Giáp Ngọ (1834) vua Minh Mạng đã sai Đội trưởng đội Hoàng Sa là Trương Phúc Sĩ dẫn 20 thủy thủ đi đo đạc kích thước, vẽ bản đồ, đo độ nông sâu, địa thế các đảo. Kể từ đó vua đã nhiều lần cho tiến hành công việc này, những người không hoàn thành nhiệm vụ đều bị xử phạt nghiêm khắc, như trường hợp của Giám thành Trương Viết Soái, năm Bính Thân (1836) khi về không có bản đồ đệ trình bị xử “trảm giam hậu” (chém nhưng tạm giam trước)…
Đặc biệt, bên cạnh việc khai thác, tuần phòng trên biển, vua Minh Mạng còn cho tiến hành xây dựng nơi thờ tự (chùa, miếu), trồng cây, dựng cột, bia chủ quyền tại một số đảo vào các năm Qúy Tị (1833), Ất Mùi (1835), Bính Thân (1836)… Như vào tháng Giêng năm Bính Thân (1836) các quan ở bộ Công đã dâng sớ tâu rằng:
“Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Hằng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chọn phái biền binh thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng Hai thì đến Quảng Ngãi, yêu cầu 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa. Không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào, khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ.
Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào thuyền đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ bến, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về, dâng trình” (Đại Nam thực lục chính biên).
Lời tâu này được Minh Mạng chấp thuận ngay, vua còn căn dặn rằng phải “ghi, nói minh bạch trong họa đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng Giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm” (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).
Như vậy việc các tàu thuyền đi tuần tiễu, khảo sát đo đạc tại Vạn lý Hoàng Sa theo lệ sẽ được tiến hành vào mùa Xuân. Theo các tư liệu khác nhau thì hoạt động này được thực hiện trong vòng 6 tháng, dù có năm do mưa gió, bão lớn nên việc khởi hành phải lùi lại nhưng nhiệm vụ của các tàu thuyền vẫn không thay đổi.
Thuyền chiến, thuyền buồm, thuyền chỉ huy thời triều Nguyễn.
 Thuyền chiến, thuyền buồm, thuyền chỉ huy thời triều Nguyễn.
Việc cho quân đồn trú, tiến hành thu thuế và bảo vệ ngư dân cũng đã được thực hiện, một người Anh tên là Gutzlaff trong bài viết đăng trên tập san “Á Châu hội” xuất bản ở Luân Đôn (London) năm 1849 cho biết: “Những đảo ấy đáng lẽ không có giá trị nếu nghề cá ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu…
Tuy rằng hàng năm hơn mười phần thuyền bị đắm nhưng đánh cá được nhiều, đến nỗi không những bù hết mọi thiệt thòi mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đều phải trả, và để bảo trợ những người đánh cá bản quốc”.
Ngoài hoạt động bảo vệ chủ quyền, khai thác tài nguyên biển, vua Minh Mạng còn lệnh cho thủy quân làm nhiệm vụ cứu hộ, giúp đỡ các tàu thuyền không cứ của nước nào gặp nạn trên vùng biển nước ta. Như vào năm Bính Thân (1836) đã cứu giúp một thuyền buôn của nước Anh gặp bão tại Hoàng Sa, cứu thoát hơn 90 người đưa vào bờ biển Bình Định cấp lương thực, nước uống, thuốc men cho họ rồi cho về nước…
Những điều đó cho thấy vua Minh Mạng không chỉ kế thừa mà còn phát triển chiến lược biển đảo của các triều đại trước lên một tầm cao mới, khẳng định sức mạnh quốc gia trên biển Đông, tăng cường hơn nữa vị trí và chủ quyền tại các hải đảo nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nói riêng. Nó cho thấy những vùng lãnh thổ thiêng liêng trên biển Đông đó muôn đời là của nước Việt.

Tiết lộ thú vị về “mắt thần” trấn giữ Trường Sa

(Kiến Thức) - Tính đến năm 2012, có 7 ngọn hải đăng - "conuần mắt thần canh biển", được Việt Nam xây dựng trên quần đảo Trường Sa thiêng liêng.

Đèn biển trên đảo Song Tử Tây được xây dựng vào năm 1993, là ngọn đèn biển đầu tiên trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
 Đèn biển trên đảo Song Tử Tây được xây dựng vào năm 1993, là ngọn đèn biển đầu tiên trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Ngọn đèn biển này có dạng hình tháp tròn, được xây dựng trên nền đất cao 5,5m, chiều cao là 38m.
 Ngọn đèn biển này có dạng hình tháp tròn, được xây dựng trên nền đất cao 5,5m, chiều cao là 38m.

Đèn biển Đá Lát được xây dựng năm 1994 trên nền san hô, cách nơi ở của cán bộ chiến sĩ đảo Đá Lát hơn 300 m về phía Bắc.
 Đèn biển Đá Lát được xây dựng năm 1994 trên nền san hô, cách nơi ở của cán bộ chiến sĩ đảo Đá Lát hơn 300 m về phía Bắc.

Chân đèn nằm ở độ sâu 2m dưới mực nước biển, toàn bộ tháp đèn cao 42m, có kết cấu bằng sắt thép, trông như một búp măng mọc lên từ biển khơi.
 Chân đèn nằm ở độ sâu 2m dưới mực nước biển, toàn bộ tháp đèn cao 42m, có kết cấu bằng sắt thép, trông như một búp măng mọc lên từ biển khơi.

Đèn biển Đá Tây được xây dựng vào năm 1994.
 Đèn biển Đá Tây được xây dựng vào năm 1994.

Ngọn đèn này có chiều cao 22m.
 Ngọn đèn này có chiều cao 22m.

Đèn biển An Bang được xây dựng năm 1995.
 Đèn biển An Bang được xây dựng năm 1995.

Chiều cao của tháp đèn là 24,9m.
 Chiều cao của tháp đèn là 24,9m.

Đèn biển Tiên Nữ được xây dựng năm 2000, cao 22,1m.
 Đèn biển Tiên Nữ được xây dựng năm 2000, cao 22,1m.

Ngọn đèn biển này trông giống một tòa lâu đài sừng sững giữa biển khơi.
 Ngọn đèn biển này trông giống một tòa lâu đài sừng sững giữa biển khơi.

Đèn biển Trường Sa Lớn được hoàn thành vào đầu năm 2010.
 Đèn biển Trường Sa Lớn được hoàn thành vào đầu năm 2010.

Mặt trước của đèn biển Trường Sa Lớn.
 Mặt trước của đèn biển Trường Sa Lớn.

Đèn biển Sơn Ca là ngọn đèn biển mới nhất được xây dựng ở Trường Sa của Việt Nam.
 Đèn biển Sơn Ca là ngọn đèn biển mới nhất được xây dựng ở Trường Sa của Việt Nam.

Ngọn đèn biển này có màu sắc tươi tắn, nổi bật giữa trời biển bao la.
 Ngọn đèn biển này có màu sắc tươi tắn, nổi bật giữa trời biển bao la.

Dự kiến, đèn biển tiếp theo ở quần đảo Trường Sa sẽ được xây dựng ở đảo Nam Yết. Ảnh: Internet.
 Dự kiến, đèn biển tiếp theo ở quần đảo Trường Sa sẽ được xây dựng ở đảo Nam Yết. Ảnh: Internet.

Ảnh hiếm: Tư lệnh Giáp Văn Cương trong chiến dịch CQ-88

(Kiến Thức) - Sự giản dị và lòng quyết tâm của Tư lệnh Giáp Văn Cương được khắc họa qua loạt ảnh chụp tháng 5/1988.

Sự nghiệp của Đô đốc Giáp Văn Cương (13/9/1921 - 23/3/1990) nổi bật với vai trò Tư lệnh trong chiến dịch CQ-88 (Bảo vệ Chủ quyền năm 1988 tại quần đảo Trường Sa).
 Sự nghiệp của Đô đốc Giáp Văn Cương (13/9/1921 - 23/3/1990) nổi bật với vai trò Tư lệnh trong chiến dịch CQ-88 (Bảo vệ Chủ quyền năm 1988 tại quần đảo Trường Sa).

Những người lính trẻ đóng quân ở Trường Sa những năm cuối thập kỷ 1980 sẽ nhớ mãi hình ảnh một vị tướng già giản dị và gần gũi, với sự ân cần và tận tụy của một người cha.
 Những người lính trẻ đóng quân ở Trường Sa những năm cuối thập kỷ 1980 sẽ nhớ mãi hình ảnh một vị tướng già giản dị và gần gũi, với sự ân cần và tận tụy của một người cha. 

Phía sau sự mộc mạc ấy là những quyết định táo bạo và sáng suốt, giúp chủ quyền đất nước được bảo toàn trong những thời khắc lịch sử khó khăn.
 Phía sau sự mộc mạc ấy là những quyết định táo bạo và sáng suốt, giúp chủ quyền đất nước được bảo toàn trong những thời khắc lịch sử khó khăn.

Từ năm 1984, do tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến xấu, Tướng Giáp Văn Cương đã được Bộ Quốc phòng điều động làm Tư lệnh Hải quân lần thứ hai (lần đầu từ năm 1977-1980).
 Từ năm 1984, do tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến xấu, Tướng Giáp Văn Cương đã được Bộ Quốc phòng điều động làm Tư lệnh Hải quân lần thứ hai (lần đầu từ năm 1977-1980).

Trong 2 năm 1986-1987, một mặt, ông yêu cầu bộ phận Tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác đề xuất với Trung ương kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Kế hoạch của ông đã được chấp thuận.
 Trong 2 năm 1986-1987, một mặt, ông yêu cầu bộ phận Tác chiến soạn thảo gấp kế hoạch và phương án phòng thủ Trường Sa, mặt khác đề xuất với Trung ương kế hoạch bảo vệ chủ quyền Việt Nam ở Trường Sa và thềm lục địa phía Nam. Kế hoạch của ông đã được chấp thuận. 

Đầu năm 1988, xác định rõ "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân", toàn quân chủng đã bước vào chiến dịch CQ-88 với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.
 Đầu năm 1988, xác định rõ "Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng Hải quân", toàn quân chủng đã bước vào chiến dịch CQ-88 với ý chí và quyết tâm mạnh mẽ.

Tướng Giáp Văn Cương đã ra lệnh: "Nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là Công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay".
 Tướng Giáp Văn Cương đã ra lệnh: "Nhanh chóng dốc toàn lực, đặc biệt là Công binh, ra Trường Sa để tăng cường, củng cố tất cả đảo nổi đảo chìm mà quân dân Việt Nam đang đồn trú và sinh sống bao đời nay".

Đối với những đảo chìm chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu “Kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi”. Từ mệnh lệnh này, sáng 14/3/1988, con tàu HQ-505 đã lao vượt qua làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin, giữ vững chủ quyền Việt Nam.
 Đối với những đảo chìm chưa có quân đồn trú, ông yêu cầu “Kiên quyết đóng nhanh, đóng đồng thời tất cả các đảo, nếu cần có thể dùng mọi loại tàu để ủi bãi”. Từ mệnh lệnh này, sáng 14/3/1988, con tàu HQ-505 đã lao vượt qua làn đạn đại bác, ủi thẳng lên đảo Cô Lin, giữ vững chủ quyền Việt Nam.

Với thành quả của chiến dịch CQ-88, trong năm 1988, ông được phong làm Đô đốc đầu tiên và cũng là duy nhất của Hải quân Việt Nam cho đến năm 2011 (người thứ hai nhận vinh dự này sau ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến).
 Với thành quả của chiến dịch CQ-88, trong năm 1988, ông được phong làm Đô đốc đầu tiên và cũng là duy nhất của Hải quân Việt Nam cho đến năm 2011 (người thứ hai nhận vinh dự này sau ông là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Văn Hiến).

Hầu như không ai biết rằng, vào thời điểm thực hiện chiến dịch CQ-88, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ còn 1/3 dạ dày sau ca mổ năm 1980 và mang trong người một căn bệnh hiểm nghèo. Hai năm sau, ông đã mất tại Bệnh viện Quân y 108 Hà Nội.
 Hầu như không ai biết rằng, vào thời điểm thực hiện chiến dịch CQ-88, Tư lệnh Giáp Văn Cương chỉ còn 1/3 dạ dày sau ca mổ năm 1980 và mang trong người một căn bệnh hiểm nghèo. Hai năm sau, ông đã mất tại Bệnh viện Quân y 108 Hà Nội.

Ngày 07/05/2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng có lẽ, danh hiệu quan trọng nhất của Đô đốc Giáp Văn Cương là “vị tướng của Trường Sa” hay “Tư lệnh Trường Sa 1988” – do các chiến sĩ phong tặng bằng sự kính trọng sâu thẳm trong trái tim mình.
 Ngày 07/05/2010, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng có lẽ, danh hiệu quan trọng nhất của Đô đốc Giáp Văn Cương là “vị tướng của Trường Sa” hay “Tư lệnh Trường Sa 1988” – do các chiến sĩ phong tặng bằng sự kính trọng sâu thẳm trong trái tim mình.

Xúc động hai bóng hồng giữa sóng gió Trường Sa 1988

(Kiến Thức) - Chân dung hai người phụ nữ tài sắc có mặt trong chiến dịch CQ-88 được khắc họa qua hình ảnh và tư liệu của nhà báo quân đội Nguyễn Viết Thái.

Vào tháng 5/1988, một đoàn công tác của tỉnh Phú Khánh (cũ) gồm các nhà báo, nhà quay phim cùng cố nhạc sĩ Xuân An và hai ca sĩ Thanh Thanh, Anh Đào đã có mặt tại các điểm đảo ở Trường Sa giữa cao trào của chiến dịch CQ-88 lịch sử.
 Vào tháng 5/1988, một đoàn công tác của tỉnh Phú Khánh (cũ) gồm các nhà báo, nhà quay phim cùng cố nhạc sĩ Xuân An và hai ca sĩ Thanh Thanh, Anh Đào đã có mặt tại các điểm đảo ở Trường Sa giữa cao trào của chiến dịch CQ-88 lịch sử.

Đây là thời điểm máu vừa đổ ở vùng biển đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, công cuộc bảo vệ chủ quyền đang diễn ra khẩn trương và quyết liệt. Các chiến sĩ Trường Sa rất cần sự động viên, chia sẻ của của mọi người ở đất liền.
 Đây là thời điểm máu vừa đổ ở vùng biển đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, công cuộc bảo vệ chủ quyền đang diễn ra khẩn trương và quyết liệt. Các chiến sĩ Trường Sa rất cần sự động viên, chia sẻ của của mọi người ở đất liền.

Sự có mặt của hai nữ ca sĩ trẻ ngoài đảo xa sóng gió là một nguồn cổ vũ vô cùng to lớn về tinh thần đối với các chiến sĩ đang bảo vệ biên cương.
 Sự có mặt của hai nữ ca sĩ trẻ ngoài đảo xa sóng gió là một nguồn cổ vũ vô cùng to lớn về tinh thần đối với các chiến sĩ đang bảo vệ biên cương.

Nhiều buổi biểu diễn của cố nhạc sĩ Xuân An và hai ca sĩ Thanh Thanh, Anh Đào diễn ra ngay trên mâm pháo, thể hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền Trường Sa.
 Nhiều buổi biểu diễn của cố nhạc sĩ Xuân An và hai ca sĩ Thanh Thanh, Anh Đào diễn ra ngay trên mâm pháo, thể hiện tinh thần sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền Trường Sa.

Tiếng hát làm vơi đi nỗi nhớ quê nhà. Khi anh em chiến sỹ yêu cầu hát về vùng quê nào, Anh Đào và Thanh Thanh đều hát những bài hát về vùng quê đó.
 Tiếng hát làm vơi đi nỗi nhớ quê nhà. Khi anh em chiến sỹ yêu cầu hát về vùng quê nào, Anh Đào và Thanh Thanh đều hát những bài hát về vùng quê đó.

Các ca sĩ mang theo cả kim chỉ để tranh thủ khâu áo cho anh em, vừa khâu vừa hát để kìm bớt cảm xúc.
 Các ca sĩ mang theo cả kim chỉ để tranh thủ khâu áo cho anh em, vừa khâu vừa hát để kìm bớt cảm xúc.

“Hát bao nhiêu cho chiến sỹ Trường Sa, cũng chưa đủ, chưa xứng với tình cảm các anh dành cho mình”, ca sĩ Anh Đào tâm sự.
 “Hát bao nhiêu cho chiến sỹ Trường Sa, cũng chưa đủ, chưa xứng với tình cảm các anh dành cho mình”, ca sĩ Anh Đào tâm sự.

Ca sĩ Thanh Thanh nổi tiếng với bài hát "Gần lắm Trường Sa" của cố nhạc sĩ Huỳnh Phước Long. Mỗi lần cô hát đều được lính đảo Trường Sa hoan hô nhiệt liệt.
 Ca sĩ Thanh Thanh nổi tiếng với bài hát "Gần lắm Trường Sa" của cố nhạc sĩ Huỳnh Phước Long. Mỗi lần cô hát đều được lính đảo Trường Sa hoan hô nhiệt liệt.

Vì Thanh Thanh thể hiện bài hát này quá xuất sắc, nhiều lính đảo quả quyết rằng chính cô là người sáng tác ra nó, nếu không thì cô chẳng thể hát được hay đến như vậy!
 Vì Thanh Thanh thể hiện bài hát này quá xuất sắc, nhiều lính đảo quả quyết rằng chính cô là người sáng tác ra nó, nếu không thì cô chẳng thể hát được hay đến như vậy!

Đối với ca sĩ Anh Đào, tình yêu dành cho Trường Sa gắn với một sự hi sinh to lớn về đời tư. Sau lần ra Trường Sa năm 1988, chồng cô đã yêu cầu cô chuyển ngành, không đi hát nữa. Anh Đào đã xin chồng cho 3 đêm để suy nghĩ.
 Đối với ca sĩ Anh Đào, tình yêu dành cho Trường Sa gắn với một sự hi sinh to lớn về đời tư. Sau lần ra Trường Sa năm 1988, chồng cô đã yêu cầu cô chuyển ngành, không đi hát nữa. Anh Đào đã xin chồng cho 3 đêm để suy nghĩ.

Không muốn xa cách khỏi Trường Sa, cô nói rằng mình không thể chuyển ngành, và cuộc hôn nhân dần dần đi đến hồi kết. Từ đó Anh Đào nuôi con một mình. Sau này, cô đã quay trở lại Trường Sa vào năm 2002 và 2004.
 Không muốn xa cách khỏi Trường Sa, cô nói rằng mình không thể chuyển ngành, và cuộc hôn nhân dần dần đi đến hồi kết. Từ đó Anh Đào nuôi con một mình. Sau này, cô đã quay trở lại Trường Sa vào năm 2002 và 2004.

Đối với những bóng hồng của chiến dịch CQ-88 lịch sử, danh hiệu cao quý nhất mà họ nhận được trong sự nghiệp của mình chính là danh hiệu: Ca sĩ của Trường Sa.
 Đối với những bóng hồng của chiến dịch CQ-88 lịch sử, danh hiệu cao quý nhất mà họ nhận được trong sự nghiệp của mình chính là danh hiệu: Ca sĩ của Trường Sa.

Đọc nhiều nhất

Tin mới