Nhà khoa học đưa công nghệ vật liệu đầu tiên cho tượng đài hết gỉ

Công trình của TS Phạm Đăng Địch đã tìm ra vật liệu giúp tượng đài bằng đồng không bị gỉ xanh, ứng dụng công nghệ vật liệu đầu tiên cho lĩnh vực này.

Những công trình tượng đài bằng đồng ngoài trời tại Việt Nam từ lâu phải đối mặt với thử thách lớn từ điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm và tình trạng ô nhiễm không khí gia tăng, dẫn đến hiện tượng gỉ xanh và xuống cấp bề mặt.

pham-dang-dich-9787.jpg
Tượng đài "Bác Hồ với Nhân dân Quảng Bình" do Công ty Tân Tiến đúc, áp dụng mẫu hợp kim của đề tài. Ảnh: NVCC.

Nhằm tìm kiếm giải pháp khắc phục triệt để bài toán kỹ thuật này, năm 2006, TS Phạm Đăng Địch cùng các cộng sự tại Trung tâm Nghiên cứu Tư vấn Phát triển Công nghệ Đúc - Luyện kim (Hội Đúc luyện kim Hà Nội) đã triển khai công trình nghiên cứu công nghệ vật liệu mang tính bước ngoặt, giải quyết triệt để bài toán ăn mòn kim loại ngoài trời, mở ra giải pháp công nghệ vật liệu tối ưu cho các công trình tượng đài.

pham-dang-dich-5321.jpg
Tượng đài "Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Tây Bắc" cũng do Công ty Tân Tiến thực hiện. Ảnh: NVCC

“Bắt bệnh” gỉ xanh ở các công trình tượng đài

Việt Nam sở hữu đặc trưng khí hậu nóng ẩm, vốn là môi trường xúc tác mạnh mẽ cho các phản ứng hóa học và sinh học làm hư hại công trình ngoài trời, đặc biệt là các kết cấu kim loại. Thực tế vận hành cho thấy, tượng đài Lý Thái Tổ tại Hà Nội sau một thời gian chống chịu mưa nắng đã xuất hiện hiện tượng gỉ xanh bề mặt, buộc cơ quan quản lý phải tiến hành che chắn để tu sửa.

Theo kết quả khảo sát của TS Phạm Đăng Địch, hiện tượng gỉ xanh cục bộ xuất hiện ở hầu hết các công trình tượng đài lớn do Việt Nam tự xây dựng tại Hà Nội, bao gồm: Đài tưởng niệm liệt sĩ Bắc Sơn, tượng đài Lý Thái Tổ, tượng đài Công nhân Việt Nam và phù điêu Hà Nội mùa đông 1946 (ngoại trừ Tượng đài Lênin không bị ảnh hưởng).

pham-dang-dich-5124.jpg
TS Phạm Đăng Địch đi khảo sát tại Điện Biên. Ảnh: NVCC.

Đáng chú ý, khảo sát tại các địa phương lân cận cũng ghi nhận tình trạng tương tự ở nhiều công trình lớn như tượng Nữ tướng Lê Chân, Danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm (Hải Phòng), Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (Nam Định), tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) và tượng Cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (Bắc Ninh).

Phân tích ở góc độ chuyên môn, TS Phạm Đăng Địch chỉ ra, nguyên nhân chính xuất phát từ vật liệu đúc. Phần lớn đồng hợp kim sử dụng trước đây được nấu lại từ nguồn phế liệu thu gom, thiếu quy trình khống chế chính xác tỷ lệ thành phần thiếc, dẫn đến độ bền ăn mòn không đạt chuẩn.

Bên cạnh đó, tác động từ môi trường không khí đô thị với nồng độ các chất khí gây ăn mòn như SO₂ và NO₂ tăng cao, kết hợp cùng độ ẩm nhiệt đới, đã đẩy nhanh tốc độ ăn mòn điện hóa bề mặt. Ngoài ra, kỹ thuật ghép nối các chi tiết và liên kết giữa vỏ tượng với khung giá đỡ bên trong chưa bảo đảm yêu cầu kỹ thuật cũng là yếu tố ảnh hưởng. Nhà khoa học khẳng định, việc lựa chọn chuẩn xác hệ và mác đồng hợp kim có khả năng chống ăn mòn cao là điều kiện tiên quyết để đảm bảo tính thẩm mỹ và độ bền vững lâu dài cho các tượng đài ngoài trời.

Công trình đầu tiên đưa công nghệ vật liệu phục vụ chế tác tượng đài bằng đồng ngoài trời

Trước bài toán cấp thiết của ngành, TS Phạm Đăng Địch đã làm chủ nhiệm đề tài "Nghiên cứu công nghệ chế tạo hợp kim có độ bền ăn mòn cao dùng để xây dựng và phục chế tượng đài đặt tại Hà Nội".

Đây là công trình nghiên cứu bài bản đầu tiên về công nghệ vật liệu phục vụ chế tác tượng đài bằng đồng ngoài trời được thực hiện trên phạm vi cả nước.

Thông qua các phương pháp phân tích và kiểm nghiệm thực nghiệm, đề tài đã lựa chọn thành công mác đồng hợp kim thuộc hệ đa nguyên (CuSnZnPb1A) sở hữu các đặc tính cơ lý và khả năng chống ăn mòn đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe.

Không dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm, đề tài đã chuẩn hóa quy trình nấu luyện hợp kim trong lò trung tần ở quy mô công nghiệp. Kết quả cho thấy công nghệ nấu luyện đạt độ ổn định cao, đảm bảo thành phần hợp kim chuẩn xác, độ chảy loãng tốt và đạt các chỉ số độ bền ăn mòn (theo phương pháp mất khối lượng và ăn mòn điện hóa).

pham-dang-dich-8671.jpg
Tượng Phật, một sản phẩm của đề tài, cao gần 70cm nặng khoảng 30kg. Tượng được đúc sau khi thử nghiệm mẫu để ngoài trời chịu mưa nắng khí ô nhiễm lâu mà không gỉ. Ảnh: NVCC.

Để đánh giá định lượng, TS Phạm Đăng Địch đã đúc thử nghiệm 6 bức tượng mẫu (gồm 3 tượng Quan Âm, 2 tượng "Cô gái rót nước" và 1 tượng "Cô gái đội nước"). Trong đó, 3 bức tượng được đặt thử nghiệm phơi mưa nắng 180 ngày tại khu vực có nồng độ khí SO₂, NO₂ và độ ẩm cao nhằm mô phỏng điều kiện môi trường thực tế tại miền Bắc.

Kết quả thu được rất khả quan: không phát hiện hiện tượng gỉ xanh cục bộ, màu sắc đồng ngả sang sắc nâu sẫm trầm tự nhiên, riêng mẫu tượng "Cô gái đội nước" sau đánh bóng chuyển sang màu nâu đen.

Nhận xét về đặc tính này, nhà điêu khắc Tạ Quang Bạo đánh giá cao hiện tượng biến màu tự nhiên của mác đồng mới, giúp công trình tăng giá trị thẩm mỹ theo thời gian.

Đánh giá về kết quả nghiên cứu, TS Thái Bá Minh, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu khẳng định đề tài đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu khoa học đề ra. Hội đồng nghiệm thu đã đề nghị Sở Khoa học và Công nghệ cùng UBND Thành phố Hà Nội xem xét, tạo điều kiện ứng dụng rộng rãi mác đồng hợp kim này vào các công trình tượng đài và tác phẩm nghệ thuật ngoài trời, đặc biệt là các công trình tiến tới Đại lễ kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Trao đổi với PV Tri thức và Cuộc sống, TS Phạm Đăng Địch, Hội Đúc luyện kim Hà Nội cho hay, sau khi được nghiên cứu và kiểm chứng, công nghệ chế tạo đồng hợp kim có độ bền ăn mòn cao, Công ty Tân Tiến, doanh nghiệp đúc đồng Ý Yên – Nam Định (cũ) do ông Dương Bá Tân làm chủ đã nhận chuyển giao công nghệ. Từ đó đến nay, sau 20 năm, Tân Tiến đã tiến hành thi công xây dựng nhiều công trình tượng đài ở Hà Nội cũng như cả nước đạt kết quả tốt.

“Sau 20 năm thử thách, tôi tin vật liệu CuSnZnPb1A sẽ xây dựng nên những tượng đài mãi trường tồn”, ông chia sẻ.

Ký ức đặc biệt của người thầy 93 tuổi gần 70 năm gắn bó Khoa Toán – Tin Đại học Sư phạm Hà Nội

Là sinh viên khóa hai, rồi trở thành giảng viên, cán bộ quản lý Khoa Toán, thầy Lê San đã dành phần lớn cuộc đời gắn bó với mái trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

Ngày 1/11, tại lễ kỷ niệm 75 năm thành lập Khoa Toán – Tin, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sự xuất hiện của thầy giáo Lê San, sinh năm 1933, nguyên Bí thư Đảng ủy Khoa Toán (nay là khoa Toán - Tin), nguyên Phó chủ nhiệm Khoa Toán, cựu sinh viên khóa 2, khiến hội trường vỡ òa xúc động.

Thầy Lê San thuộc những thế hệ sinh viên đầu tiên được đào tạo tại Khoa, sau đó trở thành giảng viên, nhà quản lý, dành nhiều năm gắn bó với sự nghiệp đào tạo các thế hệ giáo viên toán học. Thầy là một trong những người chứng kiến và đồng hành qua những chặng đường đầu tiên xây dựng, phát triển Khoa, góp phần làm nên lịch sử 75 năm của một địa chỉ đào tạo giáo viên toán hàng đầu cả nước.

Tấm danh thiếp đặc biệt của người thầy, người lính Hoàng Văn Thung

Tấm danh thiếp được học trò cũ lưu lại chỉ ghi vỏn vẹn: “Hoàng Văn Thung - Nhà giáo - Cựu chiến binh” nhưng đã khắc họa trọn vẹn vai trò cao quý của thầy.

Trong kí ức của nhiều thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, thầy Hoàng Văn Thung (Hoàng Thung) là người có thể khiến những kiến thức ngữ âm học, ngữ pháp học vốn khô khan trở nên gần gũi, sinh động. Đằng sau những bài giảng hóm hỉnh, dễ hiểu là một nhà giáo nghiêm túc với chuyên môn, một nhà khoa học luôn đề cao tính ứng dụng của tri thức và một người lính từng đi qua những năm tháng kháng chiến.

Trong số những kỷ vật được người học trò cũ lưu giữ từ những năm 1980 - 1990 có tấm danh thiếp của thầy, trên đó chỉ ghi 3 dòng chữ: “Hoàng Văn Thung - Nhà giáo - Cựu chiến binh”. Không có học hàm, học vị hay danh hiệu, tấm danh thiếp vẫn khắc họa trọn vẹn hai vai trò cao quý của thầy: người đứng trên bục giảng và người từng cầm súng bảo vệ Tổ quốc.

GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời trọng thầy, thương trò, đam mê nghiên cứu

Cả cuộc đời của GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn gói gọn trong mấy cụm từ như ông chia sẻ: trọng thầy, thương trò, đam mê nghiên cứu, giảng dạy, gắn bó với đất nước.

Trong sự nghiệp của GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn, nghiên cứu hóa học, đào tạo các thế hệ học trò và xây dựng tổ chức khoa học luôn gắn bó chặt chẽ với nhau. Ông là nhà khoa học có nhiều công trình ứng dụng trong sản xuất, an toàn thực phẩm, đồng thời là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, người đặt những nền móng quan trọng cho hoạt động tập hợp, phát huy trí thức khoa học và công nghệ thành phố.

chu-pham-ngoc-son.png

Đọc nhiều nhất

Tin mới

Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn

Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn

Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.

Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng 'Vì người nghèo'

Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng 'Vì người nghèo'

Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.

Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ

Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ

Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.