Giải mã âm mưu "trấn yểm" Thần Đồng

(Kiến Thức) - Thần Đồng, loại cổ vật tâm linh của vương quyền, cho nên mọi hiện tượng có liên quan đến loại cổ vật này, đều được sử sách ghi chép lại. 

Thần Đồng, loại cổ vật tâm linh của vương quyền, cho nên mọi hiện tượng diễn ra có liên quan đến loại cổ vật này, đều được sử sách ghi chép lại. Tuy không đầy đủ, tỉ mỉ, nhưng cũng đủ cho người nghiên cứu tìm thấy nội dung của vấn đề đặt ra và không thấy nói việc một tốp người đứng "giã" Thần Đồng.
Truy tìm trong thư tịch cổ 
Theo Đại Việt sử ký toàn thư  năm 111 trước Công Nguyên nhà Tây Hán vượt núi Ngũ Lĩnh chiếm nước Nam Việt thì toàn bộ khu vực bao la rộng lớn này nhà Hán thiết lập thành một đơn vị hành chính gọi là châu (dưới châu có chín quận). Trụ sở  Châu đặt ở Luy Lâu (Dâu) thuộc lãnh thổ đất Giao Chỉ nên gọi là Giao Châu. Đến năm 264 (thời Tam quốc), vùng này thuộc về nhà Ngô, vua Ngô Tôn Hạo thấy Giao Châu rộng lớn quá nên tách thành hai châu: Quảng Châu và Giao Châu. Giao Châu trụ sở vẫn đặt như cũ còn Quảng Châu, trụ sở đặt ở Quảng Tín. Từ đây các sử gia của Trung Quốc thời kỳ này chạy loạn dồn về Quảng Tín, nên họ viết nhiều về lịch sử có liên quan đến trống đồng ở vùng Lưởng Quảng mà không nói gì đến Thần Đồng của người Kinh Giao Chỉ. 
Có trên 40 đầu sách của Trung Quốc ghi chép những vấn đề liên quan đến trống đồng, nhưng ở đây chỉ trích lược phần nói về trống đồng ở trong một số sách. Sớm nhất là sách Hậu Hán thư của Phạm Việp (424 - 425) quyển 54, mục Mã Viện truyện, tường trình về sự kiện Mã Viện lấy được trống đồng Lạc Việt ở Giao Chỉ, đem về nước đúc thành ngựa mẫu... ngựa cao 3 thước 5 tấc (khoảng hơn 1m), vòng thân ngựa 4 thước 4 tấc (khoảng 1,5m), vua xuống chiếu đặt ngựa mẫu trước cửa điện Tuyên Đức để làm ngựa mẫu hẳn vùng đó  sẽ yên (tức là làm vật "yểm" - bởi từ  địa vị "Thần Đồng" Ấn tín của Nhà nước Văn Lang - Âu Việt, thành con ngựa cho đế chế Hán cưỡi).
Đó là thời điểm Mã Viện đưa quân sang Giao Chỉ đàn áp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40 - 43) y thấy giá trị tâm linh của Thần Đồng - vật hèm Ấn tín gắn liền với các Lạc hầu, Lạc tướng - biểu tượng quyền uy và linh hồn của đất nước Văn Lang Âu lạc, là lời hiệu triệu dân tộc đứng lên chống Hán. Cho nên Mã Viện đã bắt 300 Lạc tướng của cuộc khởi nghĩa đày sang Linh Lăng và tịch thu hết vật linh Ấn tín của họ. 
Trong ba năm ở lại Giao Chỉ, Mã Viện đã cho quân lính lùng sục, tìm cướp hết Thần Đồng của dân tộc ta chuyển về nước, và cho tàn phá hết các lò đúc Thần Đồng, cấm doán người Giao Chỉ sử dụng và cất giấu Thần Đồng. Y còn cho nấu chảy Thần Đồng đúc thành trụ, làm vật yểm chôn ở động Cô Lâu, châu Khâm và đưa ra câu thề độc: "Đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt" (Cây đồng trụ đổ thì người Giao Chỉ mất nòi). Người Giao Chỉ  đi qua chỗ cột  ấy ai cũng cầm bỏ vào chân cột một hòn đá, thành gò đống, vì sợ cột ấy gẫy (Đại Việt sử ký toàn thư).  
Tiếp đến sách Quảng Châu ký của Bùi Thị xuất hiện vào khoảng năm 420 - 487 ghi lại hiện tượng người Lý, người Lão đúc đồng làm trống. Trống lấy cao lớn làm quý. Lúc mới đúc xong, treo trống ở sân, buổi sáng bày rượu mời đồng loại đến. Người đến đầy cửa. Con trai con gái nhà hào phú lấy vàng bạc làm "thoa" lớn, cầm thoa gõ trống, gõ xong để thoa lại cho nhà chủ. Người Lý người Lão chỉ cư dân phi Hán ở Quảng Châu, tộc danh này xuất hiện trong thư tịch thời Tam Quốc (thế kỷ III) mà nay có người coi là tổ tiên của người Choang - Nhưng theo nhà Dân tộc học người Thái Cầm Trọng cho rằng: Người Lí là người Lào và người Lão là người Lự, hậu duệ của hai tộc danh này hiện đang cư ngụ ở Đông Dương (trao đổi riêng).       
Sách Lỉnh biểu lục dị của Lưu Tuân làm quan tại Quảng Châu khoảng năm 889 - 903 ghi: Nhạc (cụ) của người Man Di có trống đồng, hình dáng như yêu cổ (trống có eo thắt lại) nhưng một đầu có mặt. Mặt trống tròn hơn hai thước. Mặt liền với thân. Đúc toàn bằng đồng. Thân trống đầy hình côn trùng, cá, hoa, cỏ. Toàn thân đều đặn dày hơn 2 phân. Đúc rất giỏi, thật là tinh xảo. Đánh trống, tiêng vang trong trẻo không kém tiếng mai rùa.               
Âm mưu "trấn yểm" Thần Đồng
Chỉ trích dẫn ba đoạn nói về trống đồng trong ba cuốn sách, đã cho chúng ta thấy 4 điểm sau đây; Thứ nhất: Từ vật linh "Thần Đồng" Ấn tín của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc của dân tộc Kinh Giao Chỉ trở thành một nhạc cụ tầm thường thuộc bộ gõ "đồng cổ" (trống đồng) là do Mã Viện ngụy tạo ra. Khi về nước y còn nấu chảy vật linh Thần Đồng đúc thành ngựa, lấy đó làm vật "yểm" - bởi từ  địa vị "Thần Đồng" Ấn tín của Nhà nước Văn Lang - Âu Lạc  thành con ngựa cho đế chế Hán cưỡi. Phải đến 400 năm (424 - 425) mới được tác giả Phạm Việp định danh bằng Hán tự "đồng cổ"  trong sách Hậu Hán thư, quyển 54 mục Mã Viện chuyện. 
Thứ hai: Khi gọi Thần Đồng của người Kinh Giao Chỉ là "đồng cổ" (trống đồng) - thứ nhạc cụ là quá mới mẻ. Nó chưa  đi vào nhận thức của cư dân vùng Lưỡng Quảng, cho nên, khi các Phú hào đúc trồng đồng xong, đặt trống giữa sân: Mở tiệc rượu mời đồng loại đến mừng. Khách đến mừng dùng thoa gõ vào trống, rồi để lại cho nhà chủ, chứ không dùng dùi đánh thử (Quảng Châu ký). 
Như vậy, việc đúc trống đồng của các Tù trưởng ở vùng Lưỡng Quảng là để làm vật linh biểu tượng quyền uy, chứ không nhằm làm thứ nhạc cụ.
Thứ ba: Đánh trống đồng, tiếng vang trong trẻo không kém tiếng mai rùa. Tiếng mai rùa thì lịch bịch chứ làm gì có tiếng trong trẻo.  
Thứ bốn: Trần Cương Trung - người Tàu sứ nhà Nguyên, có hai câu thơ: Nghe trống đồng  rung, tóc bạc phơ, là nói  dối, nhằm làm mất uy linh, tàn phá thứ Quốc bảo - Thần Đồng - Ấn tín ở thời cổ đại của dân tộc ta. 
Việc nhận thức về tinh thần của vật "hèm" ấn tín này, đã được người Việt bắt đầu thực hiện từ khi nước nhà giành lại quyền tự chủ. Đó là thư tịch của các triều đại phong kiến Việt Nam đều ghi chép trân trọng loại vật linh "hèm" này và gọi là "thần Đồng Cổ" lập miếu thờ do Nhà nước quản lý. Còn nếu là "trống" loại nhạc khí thì không thể diễn ra hiện tượng trên. Ngoài ra, trong dân dã, người làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam (ông Nguyễn Văn Túc, Nguyễn Văn Ý) khi đào được cổ vật này khoảng năm 1893 - 1894, họ đưa về thờ trong đình làng. Ngày 15/11/1902, hiện vật này được đưa về trưng bày ở Nhà đấu xảo Hà Nội, sau đó Trường Viễn Đông Bác cổ Hà Nội mua lại. Nay gọi là trống đồng Ngọc Lũ, lưu trữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam - Hà Nội.
Tóm lại, việc trân trọng, tôn thờ loại vật "hèm" này được thể hiện ở chỗ: Từ dân dã đến vương quyền và thư tịch bác học đều không nơi nào nói đến hiện tượng "giã" trống đồng - người ta coi cách đánh, giã  trống đồng là đánh vào nền văn hoá truyền thống của dân tộc, đó là điều kiêng dè, cấm kỵ - "huý".
Việt Nam có tặng cho Liên Hợp Quốc Thần Đồng Ngọc Lũ. Thần Đồng này được vinh dự đặt ở cửa ra vào Hội trường lớn. Đã có nước đề nghị người phụ trách phòng trưng bày chuyển Thần Đồng của ta đi nơi khác nhưng thực tế việc đó đã không xảy ra.   

Khám phá thú vị: Trống đồng - “linh vật” được thờ cúng

(Kiến Thức) - Có đủ căn cứ để khẳng định cái mà ngày nay đa số mọi người vẫn gọi là trống đồng không đúng với bản chất khi nó được làm ra.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nó là Ấn tín, vật thờ cúng thời Hùng Vương.

Giành lại quyền tự chủ phục hồi ấn tín cho Thần Đồng
Sở dĩ, sách Cựu Đường thư đưa ra sự kiện ấy là do ở Giao Chỉ Ngô Quyền sau trận chiến thắng đánh tan quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng, Kỷ Hợi, năm thứ 1(939) vua bắt đầu xưng vương lập Dương Thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục.       

Sự thật về mỹ nhân nổi tiếng bậc nhất nhà Hán

(Kiến Thức) - Xuất thân bình dân, thấp hèn, cuộc đời nàng chịu rất nhiều đau thương bất hạnh, nhưng rồi hạnh phúc cũng mỉm cười với người con gái đức hạnh.

Nàng Đậu Y Phòng người Quan Tân, Thanh Hà, nước Triệu, xuất thân bình dân, thấp hèn. Cha mẹ nàng mất sớm, nàng và anh, em trai ba người nương tựa vào nhau, cuộc sống vô cùng nghèo khổ, vất vả. Bù lại nàng vô cùng xinh đẹp. Năm Đậu Thị mười mấy tuổi đã trở thành một thiếu nữ yểu điệu thướt tha, nhan sắc kiều diễm. Nàng được tuyển và đưa đến hoàng cung Trường An làm cung nữ.
Nàng Đậu Y Phòng người Quan Tân, Thanh Hà, nước Triệu, xuất thân bình dân, thấp hèn. Cha mẹ nàng mất sớm, nàng và anh, em trai ba người nương tựa vào nhau, cuộc sống vô cùng nghèo khổ, vất vả. Bù lại nàng vô cùng xinh đẹp. Năm Đậu Thị mười mấy tuổi đã trở thành một thiếu nữ yểu điệu thướt tha, nhan sắc kiều diễm. Nàng được tuyển và đưa đến hoàng cung Trường An làm cung nữ. 
Nghe tin nàng tiến cung, ba anh em ôm nhau khóc nức nở. Nàng không muốn tiến cung vì thương đứa em trai mới được 4, 5 tuổi. Nhưng lệnh vua không thể cưỡng. Trước khi đi, nàng đứng ở trạm dịch xin được một ấm nước nóng và một bát cơm nguội. Nàng gội đầu cho em lần cuối và nhìn nó ăn hết bát cơm rồi bịn rịn, nước mắt lưng tròng lên xe rời xa. Giờ phút bước lên xe nàng đã hoàn toàn tuyệt vọng, từ nay sống chết biết bao giờ có thể gặp lại người thân. Thương đứa em chưa thể tự lo cho mình rồi sẽ sống ra sao.
Nghe tin nàng tiến cung, ba anh em ôm nhau khóc nức nở. Nàng không muốn tiến cung vì thương đứa em trai mới được 4, 5 tuổi. Nhưng lệnh vua không thể cưỡng. Trước khi đi, nàng đứng ở trạm dịch xin được một ấm nước nóng và một bát cơm nguội. Nàng gội đầu cho em lần cuối và nhìn nó ăn hết bát cơm rồi bịn rịn, nước mắt lưng tròng lên xe rời xa. Giờ phút bước lên xe  nàng đã hoàn toàn tuyệt vọng, từ nay sống chết biết bao giờ có thể gặp lại người thân. Thương đứa em chưa thể tự lo cho mình rồi sẽ sống ra sao.
Khi vào cung do hiền lành, đoan trang nên đã nhanh chóng trở thành một tiểu thị nữ được Lã Trĩ rất yêu mến và tin tưởng. Tuy cả ngày nơm nớp lo sợ hầu hạ chủ nhân, nhưng so với những ngày đói khổ thì cuộc sống giờ đây cũng như thiên đường. Nhưng điều này càng làm cho Đậu Thị vô cùng đau khổ khi nghĩ không biết anh và em trai ở ngoài sống chết ra sao trong thời buổi loạn lạc này. Không lâu sau, Lưu Bang ốm chết. Thái hậu Lã Trĩ thao túng triều chính, chia đất cho các con cái của thê thiếp Lưu Bang được phong Vương, đồng thời ban cho mỗi người 5 cung nữ.
Khi vào cung do hiền lành, đoan trang nên đã nhanh chóng trở thành một tiểu thị nữ được Lã Trĩ rất yêu mến và tin tưởng. Tuy cả ngày nơm nớp lo sợ hầu hạ chủ nhân, nhưng so với những ngày đói khổ thì cuộc sống giờ đây cũng như thiên đường. Nhưng điều này càng làm cho Đậu Thị vô cùng đau khổ khi nghĩ không biết anh và em trai ở ngoài sống chết ra sao trong thời buổi loạn lạc này. Không lâu sau, Lưu Bang ốm chết. Thái hậu Lã Trĩ thao túng triều chính, chia đất cho các con cái của thê thiếp Lưu Bang được phong Vương, đồng thời ban cho mỗi người 5 cung nữ. 
Ngoài thái tử Lưu Doanh con thái hậu Lã Trĩ, Lưu Bang còn có 7 người con trai. Đậu Thị cũng nằm trong danh sách cung nữ ban thưởng cho các vương hầu. Nàng nghe thấy Lưu Như Ý được phong là Triệu Vương, nên nàng muốn theo Triệu vương rời xa kinh thành và cũng có thể sẽ được gần quê hương hơn, như vậy sẽ tiện nghe ngóng và hỏi thăm tin tức về người thân hơn. Nàng đã dùng hết số tiền ít ỏi mà nàng dành dụm được từ hồi vào cung đưa cho viên thái giám phụ trách việc ban thưởng cung nữ, cầu xin ông ta khai ân cho mình được đi theo Triệu Vương. Không ngờ tên thái giám đó vẫn nhận tiền mà không giúp nàng, hoặc cũng có thể do số tiền của nàng quá ít nên hắn không thèm đếm xỉa, nên đến khi sắp xếp danh sách hắn cứ theo lệ mà làm, không ngờ viết tên nàng vào danh sách theo Lưu Hằng đến Đại quốc.
Ngoài thái tử Lưu Doanh con thái hậu Lã Trĩ, Lưu Bang còn có 7 người con trai. Đậu Thị cũng nằm trong danh sách cung nữ ban thưởng cho các vương hầu. Nàng nghe thấy Lưu Như Ý được phong là Triệu Vương, nên nàng muốn theo Triệu vương rời xa kinh thành và cũng có thể sẽ được gần quê hương hơn, như vậy sẽ tiện nghe ngóng và hỏi thăm tin tức về người thân hơn.
Nàng đã dùng hết số tiền ít ỏi mà nàng dành dụm được từ hồi vào cung đưa cho viên thái giám phụ trách việc ban thưởng cung nữ, cầu xin ông ta khai ân cho mình được đi theo Triệu Vương. Không ngờ tên thái giám đó vẫn nhận tiền mà không giúp nàng, hoặc cũng có thể do số tiền của nàng quá ít nên hắn không thèm đếm xỉa, nên đến khi sắp xếp danh sách hắn cứ theo lệ mà làm, không ngờ viết tên nàng vào danh sách theo Lưu Hằng đến Đại quốc.
 
Nước Đại nay thuộc khu vực Tấn Dương, Sơn Tây và rất xa nước Triệu. Ai cũng hiểu đạo lý rằng, một khi đã vào cung thì cửa sâu như biển, nàng hiểu rõ cả đời này mình sẽ chôn vùi ở Sơn Tây, kiếp này sẽ không thể biết tin tức gì về người thân của mình. Nhưng nàng không ngờ đấy chính là chuyến đi thay đổi vận mệnh cả đời mình. Có lẽ phú quý là do trời định, cuối cùng vận mệnh tốt đẹp đã đến với người con gái khổ hạnh. Sau khi đến nước Đại, nàng được Đại vương Lưu Hằng sủng ái và phong là Thân Vương phi sau đó nàng sinh được ba người con. Công chúa đầu là Lưu Phiêu, hoàng tử thứ hai là Lưu Khải (sau này là Cảnh đế) và hoàng tử út là Lưu Vũ.
 Nước Đại nay thuộc khu vực Tấn Dương, Sơn Tây và rất xa nước Triệu. Ai cũng hiểu đạo lý rằng, một khi đã vào cung thì cửa sâu như biển, nàng hiểu rõ cả đời này mình sẽ chôn vùi ở Sơn Tây, kiếp này sẽ không thể biết tin tức gì về người thân của mình. Nhưng nàng không ngờ đấy chính là chuyến đi thay đổi vận mệnh cả đời mình. Có lẽ phú quý là do trời định, cuối cùng vận mệnh tốt đẹp đã đến với người con gái khổ hạnh. Sau khi đến nước Đại, nàng được Đại vương Lưu Hằng sủng ái và phong là Thân Vương phi sau đó nàng sinh được ba người con. Công chúa đầu là Lưu Phiêu, hoàng tử thứ hai là Lưu Khải (sau này là Cảnh đế) và hoàng tử út là Lưu Vũ.
Tuy đã được hưởng giàu sang phú quý tột cùng nhưng nàng vẫn không quên bản tính hiền dịu, đoan trang và sống rất tiết kiệm. Nàng luôn tỏ ra tôn kính với vương hậu Vương thị và mẹ chồng là Bạc thái hậu. Khi làm việc gì cũng luôn luôn giữ trọn lễ nghĩa. Đại vương Lưu Hằng, Bạc thái hậu và vương hậu vô cùng quý mến và thương yêu nàng. Mấy năm sau, vương hậu ốm và qua đời, việc kế lập vương hậu trở thành nhiệm vụ cấp bách. Lúc này nếu nhìn trong cung chỉ có nàng là có con trai, lại đủ đức hạnh. Thế là nàng Đậu Cơ được sắc phong Vương Hậu, bắt đầu cai quản mọi việc trong cung.
Tuy đã được hưởng giàu sang phú quý tột cùng nhưng nàng vẫn không quên bản tính hiền dịu, đoan trang và sống rất tiết kiệm. Nàng luôn tỏ ra tôn kính với vương hậu Vương thị và mẹ chồng là Bạc thái hậu. Khi làm việc gì cũng luôn luôn giữ trọn lễ nghĩa. Đại vương Lưu Hằng, Bạc thái hậu và vương hậu vô cùng quý mến và thương yêu nàng. Mấy năm sau, vương hậu ốm và qua đời, việc kế lập vương hậu trở thành nhiệm vụ cấp bách. Lúc này nếu nhìn trong cung chỉ có nàng là có con trai, lại đủ đức hạnh. Thế là nàng Đậu Cơ được sắc phong Vương Hậu, bắt đầu cai quản mọi việc trong cung.
Đúng lúc đó một chuyện kinh thiên động địa đã xảy ra tại kinh thành Trường An. Một cuộc mưu sát chính trị đã xảy ra, gia tộc Lã Thị bị giết hết. Con cháu của hoàng đế Lưu Doanh và tiểu hoàng đế Lưu Hoằng cũng bị giết. Hoàng vị của Đại Hán Vương triều đang bỏ trống, thừa tướng Chu Bình, thái úy Chu Bột và các đại thần sau khi bàn bạc đã chọn Đại vương Lưu Hằng làm người kế vị.
Đúng lúc đó một chuyện kinh thiên động địa đã xảy ra tại kinh thành Trường An. Một cuộc mưu sát chính trị đã xảy ra, gia tộc Lã Thị bị giết hết. Con cháu của hoàng đế Lưu Doanh và tiểu hoàng đế Lưu Hoằng cũng bị giết. Hoàng vị của Đại Hán Vương triều đang bỏ trống, thừa tướng Chu Bình, thái úy Chu Bột và các đại thần sau khi bàn bạc đã chọn Đại vương Lưu Hằng làm người kế vị. 
Năm 180 trước công nguyên, Lưu Hằng chính thức kế vị và trở thành Hán Hiếu Văn hoàng đế. Tháng 10 nguyên niên Hiếu Văn đế, Lưu Hằng cùng toàn bộ hoàng gia Đại quốc chuyển đến kinh thành Trường An, sau 16 năm xa cách, nàng Đậu Cơ đã lại trở về chốn cũ. Lưu Hằng đăng cơ lập tức lo việc triều chính. Nhưng không may đang lúc triều chính còn rối ren thì 4 hoàng tử do vương hậu sinh ra đã đổ bệnh lần lượt qua đời. Hoàng đế Lưu Hằng đau đớn đã than trời rằng có lẽ số mình không có phúc phận làm hoàng đế nên đã liên lụy đến vợ con, nên ông còn có ý định lập anh em chú bác làm thái tử nhằm kế vị ngai vàng.
 Năm 180 trước công nguyên, Lưu Hằng chính thức kế vị và trở thành Hán Hiếu Văn hoàng đế. Tháng 10 nguyên niên Hiếu Văn đế, Lưu Hằng cùng toàn bộ hoàng gia Đại quốc chuyển đến kinh thành Trường An, sau 16 năm xa cách, nàng Đậu Cơ đã lại trở về chốn cũ. Lưu Hằng đăng cơ lập tức lo việc triều chính. Nhưng không may đang lúc triều chính còn rối ren thì 4 hoàng tử do vương hậu sinh ra đã đổ bệnh lần lượt qua đời. Hoàng đế Lưu Hằng đau đớn đã than trời rằng có lẽ số mình không có phúc phận làm hoàng đế nên đã liên lụy đến vợ con, nên ông còn có ý định lập anh em chú bác làm thái tử nhằm kế vị ngai vàng.
Không biết được chính xác ý định của Lưu Hằng thế nào nhưng cũng khiến cho đám đại thần ngày đêm lo sợ. Đám đại thần đã rất nhiều lần can gián với Văn đế về việc phải lập con làm thái tử. Cuối cùng Lưu Hoằng cũng đồng ý và sắc lập con trưởng Lưu Khải của Đậu Cơ làm thái tử. Ba tháng sau đám đại thần lại một lần nữa dâng sớ lên Văn đế xin lập Hoàng hâu. Bạc thái hậu đã nói với Lưu Hằng rằng: "Cho dù con trai con hôm nay là thái tử hay là hầu vương thì cũng đều do Đậu Cơ sinh ra, đương nhiên phải lập nàng ấy là hoàng hậu”. Đúng là vận may nối tiếp vận may, ngay đến Đậu Cơ cũng không dám tin, không ngờ nàng đã trở thành vợ của đế vương đầu tiên của Hán Đế Quốc, cũng là hoàng hậu thứ tư của Đại Hán Vương triều.
Không biết được chính xác ý định của Lưu Hằng thế nào nhưng cũng khiến cho đám đại thần ngày đêm lo sợ. Đám đại thần đã rất nhiều lần can gián với Văn đế về việc phải lập con làm thái tử. Cuối cùng Lưu Hoằng cũng đồng ý và sắc lập con trưởng Lưu Khải của Đậu Cơ làm thái tử.
Ba tháng sau đám đại thần lại một lần nữa dâng sớ lên Văn đế xin lập Hoàng hâu. Bạc thái hậu đã nói với Lưu Hằng rằng: "Cho dù con trai con hôm nay là thái tử hay là hầu vương thì cũng đều do Đậu Cơ sinh ra, đương nhiên phải lập nàng ấy là hoàng hậu”. Đúng là vận may nối tiếp vận may, ngay đến Đậu Cơ cũng không dám tin, không ngờ nàng đã trở thành vợ của đế vương đầu tiên của Hán Đế Quốc, cũng là hoàng hậu thứ tư của Đại Hán Vương triều.
Giờ nàng tin hay không không còn quan trọng bởi nàng đã ngồi trên ngôi vị hoàng hậu, Để chúc mừng việc này và muốn cho bách gia trăm họ cùng được chung vui, Văn đế Lưu Hằng đã hạ chỉ, ban thưởng cho kẻ neo đơn, người nghèo khổ vải vóc, gạo mì và thịt, riêng những người già trên 80 tuổi và trẻ mồ côi dưới 9 tuổi mỗi người được thêm 10 đấu gạo, 10kg thịt, 5 đấu rượu, hai cuộn lụa, 3 cân (1,5kg) bông sợi. Lê dân trăm họ vô cùng cảm kích trước tấm lòng của vị tân hoàng hậu.
Giờ nàng tin hay không không còn quan trọng bởi nàng đã ngồi trên ngôi vị hoàng hậu, Để chúc mừng việc này và muốn cho bách gia trăm họ cùng được chung vui, Văn đế Lưu Hằng đã hạ chỉ, ban thưởng cho kẻ neo đơn, người nghèo khổ vải vóc, gạo mì và thịt, riêng những người già trên 80 tuổi và trẻ mồ côi dưới 9 tuổi mỗi người được thêm  10 đấu gạo, 10kg thịt, 5 đấu rượu, hai cuộn lụa, 3 cân (1,5kg) bông sợi. Lê dân trăm họ vô cùng cảm kích trước tấm lòng của vị tân hoàng hậu.  
Cùng với niềm hạnh phúc tột cùng luôn là nỗi nhớ đau đáu về người anh và người em trai đã thất lạc rất lâu của mình. Nhưng do Bạc Thái hậu đang bận tế lễ tổ tiên Bạc thị nên nàng cũng không dám xin với hoàng thượng để tế lễ vong linh cha mẹ đã khuất và tìm hai người thân thất lạc. Sau này, vì dân chúng yêu mến nàng nên thân thế và gia cảnh của nàng đã nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian, cuối cùng đã truyền đến tai một nô bộc tên là Đậu Quảng Quốc.
Cùng với niềm hạnh phúc tột cùng luôn là nỗi nhớ đau đáu về người anh và người em trai đã thất lạc rất lâu của mình.  Nhưng do Bạc Thái hậu đang bận tế lễ tổ tiên Bạc thị nên nàng cũng không dám xin với hoàng thượng để tế lễ vong linh cha mẹ đã khuất và tìm hai người thân thất lạc. Sau này, vì dân chúng yêu mến nàng nên thân thế và gia cảnh của nàng đã nhanh chóng được lưu truyền rộng rãi trong nhân gian, cuối cùng đã truyền đến tai một nô bộc tên là Đậu Quảng Quốc. 
Đậu Quảng Quốc tự là Thiếu Quân, sau khi chia tay chị ở trại dich năm đó anh ta mới chỉ 4,5 tuổi. Do anh trai hàng ngày phải ra ngoài làm việc kiếm sống, ở nhà không có chị chăm sóc, Thiếu Quân đã bị người ta lừa bán. Cuộc đời vô cùng thăng trầm vất vả, sau khi bị bán đi bán lại 10 mấy lần, cuối cùng được bán đến một địa chủ ở Tuyên Dương Hà Nam và ở đó đến tận bây giờ. Lúc này Thiếu Quân đã 20 tuổi và bị chủ nhà đưa vào núi sâu đốt than. Cả ngày làm việc vô cùng vất vả. Một đêm tai họa ập đến, chân núi sập xuống đè lên đám công nhân than, hơn 100 mạng ngừời chết may mắn Thiếu Quân thoát chết. Ông chủ sợ nên đã đưa cả gia đình dẫn theo nô bộc trốn vào Trường An. Ở Tràng An khi biết tin về Đậu hoàng hậu linh cảm mách bảo đó chính là người chị đã không gặp gần 20 năm. Anh ta bèn bạo gan dâng thư nói mình chính là người em trai thất lạc đã lâu của Đậu Hoàng hậu. Quan lại sau khi nhận được thư không dám chậm chễ vội vàng bẩm báo với hoàng gia.
Đậu Quảng Quốc tự là Thiếu Quân, sau khi chia tay chị ở trại dich năm đó anh ta mới chỉ 4,5 tuổi. Do anh trai hàng ngày phải ra ngoài làm việc kiếm sống, ở nhà không có chị chăm sóc, Thiếu Quân đã bị người ta lừa bán. Cuộc đời vô cùng thăng trầm vất vả, sau khi bị bán đi bán lại 10 mấy lần, cuối cùng được bán đến một địa chủ ở Tuyên Dương Hà Nam và ở đó đến tận bây giờ. Lúc này Thiếu Quân đã 20 tuổi và bị chủ nhà đưa vào núi sâu đốt than. Cả ngày làm việc vô cùng vất vả. Một đêm tai họa ập đến, chân núi sập xuống đè lên đám công nhân than, hơn 100 mạng ngừời chết may mắn Thiếu Quân thoát chết. Ông chủ sợ nên đã đưa cả gia đình dẫn theo nô bộc trốn vào Trường An. Ở Tràng An khi biết tin về Đậu hoàng hậu linh cảm mách bảo đó chính là người chị đã không gặp gần 20 năm. Anh ta bèn bạo gan dâng thư nói mình chính là người em trai thất lạc đã lâu của Đậu Hoàng hậu. Quan lại sau khi nhận được thư không dám chậm chễ vội vàng bẩm báo với hoàng gia. 
Đậu hoàng hậu hay tin vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vội vàng cùng Văn đế cho triệu kiến Đậu Quảng Quốc. Do dung nhan của Đậu hoàng hậu không thay đổi nhiều nên khi vừa gặp mặt, Đậu Quảng Quốc liền nhận ngày ra chị, nhưng do khi nàng đi em trai còn quá nhỏ nên nàng không nhận ra. Nhưng khi vừa nghe em trai kể lại chuyện li biệt năm xưa, nghe đến bát cơm nguội và chuyện gội đầu cho em lần cuối ở trạm dịch thì Đậu hoàng hậu không kiềm chế được bật khóc nức nở. Nàng không còn để ý đên danh phận mà ôm chặt em trai vào lòng, hai chị em nước mắt như mưa làm Văn đế cũng không thể kiềm chế được, đám thị nữ và thái giám cũng quỳ xuống khóc lóc thảm thiết. Sau bao ngày đau đáu lo âu và tuyệt vọng giờ đây nàng đã gặp được người em trai tội nghiệp năm xưa
Đậu hoàng hậu hay tin vừa kinh ngạc vừa vui mừng, vội vàng cùng Văn đế cho triệu kiến Đậu Quảng Quốc. Do dung nhan của Đậu hoàng hậu không thay đổi nhiều nên khi vừa gặp mặt, Đậu Quảng Quốc liền nhận ngày ra chị, nhưng do khi nàng đi em trai còn quá nhỏ nên nàng không nhận ra. Nhưng khi vừa nghe em trai kể lại chuyện li biệt năm xưa, nghe đến bát cơm nguội và chuyện gội đầu cho em lần cuối ở trạm dịch thì Đậu hoàng hậu không kiềm chế được bật khóc nức nở. Nàng không còn để ý đên danh phận mà ôm chặt em trai vào lòng, hai chị em nước mắt như mưa làm Văn đế cũng không thể kiềm chế được, đám thị nữ và thái giám cũng quỳ xuống khóc lóc thảm thiết. Sau bao ngày đau đáu lo âu và tuyệt vọng giờ đây nàng đã gặp được người em trai tội nghiệp năm xưa
Văn đế đã mở tiệc chúc mừng đã ban thưởng ruộng đất, nhà cửa cùng nhiều tiền bạc cho anh em Đậu Thị và cho họ sống gần Trường An. Bạc Thái Hậu cũng rất thương cảm với con dâu nên cũng lập chiếu thư truy phong cho cha nàng là An Thành Hầu, mẹ là An Thành phu nhân và xây mộ viên tại Thanh Hà, phong ấp 200 hộ, quan lại địa phương chịu trách nhiệm tế bái 4 đời như quy mô của từ đường Bạc thị. Sau bao nhiêu năm sóng gió thăng trầm, giờ đây nàng đã có thể tế bái vong linh cha mẹ và được hưởng cuộc sống hạnh phúc.

Văn đế đã mở tiệc chúc mừng đã ban thưởng ruộng đất, nhà cửa cùng nhiều tiền bạc cho anh em Đậu Thị và cho họ sống gần Trường An. Bạc Thái Hậu cũng rất thương cảm với con dâu nên cũng lập chiếu thư truy phong cho cha nàng là An Thành Hầu, mẹ là An Thành phu nhân và xây mộ viên tại Thanh Hà, phong ấp 200 hộ, quan lại địa phương chịu trách nhiệm tế bái 4 đời như quy mô của từ đường Bạc thị. Sau bao nhiêu năm sóng gió thăng trầm, giờ đây nàng đã có thể tế bái vong linh cha mẹ và được hưởng cuộc sống hạnh phúc.


Chuyện chưa biết về đứa con ngỗ nghịch của Lý Tiểu Long

Ngay từ bé, Lý Quốc Hào luôn cho mình là người Mỹ, căm ghét người châu Á vì cho rằng chính họ đã “giết chết” cha anh.

Mới vừa chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã biết bắt chước những động tác võ thuật của bố. Thấy vậy, Lý Tiểu Long bắt đầu dạy cho bé vài chiêu đơn giản. Không chỉ thừa hưởng gen võ thuật, mà Lý Quốc Hào còn giống cha ở tính hiếu thắng. Ở trường mẫu giáo, cu cậu thường xuyên tung quyền tung cước đánh bạn bè. Cũng như ngày xưa ông Lý Hải Tuyền bị hàng xóm mắng vốn, Lý Tiểu Long đã nhiều lần phải xin lỗi phụ huynh các “nạn nhân” của con trai mình. Ảnh: Lý Tiểu Long sinh thời rất thương yêu cậu con trai Lý Quốc Hào.
Mới vừa chập chững tập đi, Lý Quốc Hào đã biết bắt chước những động tác võ thuật của bố. Thấy vậy, Lý Tiểu Long bắt đầu dạy cho bé vài chiêu đơn giản. Không chỉ thừa hưởng gen võ thuật, mà Lý Quốc Hào còn giống cha ở tính hiếu thắng.  Ở trường mẫu giáo, cu cậu thường xuyên tung quyền tung cước đánh bạn bè. Cũng như ngày xưa ông Lý Hải Tuyền bị hàng xóm mắng vốn, Lý Tiểu Long đã nhiều lần phải xin lỗi phụ huynh các “nạn nhân” của con trai mình. Ảnh: Lý Tiểu Long sinh thời rất thương yêu cậu con trai Lý Quốc Hào.
 

Đọc nhiều nhất

Tin mới

Bảng màu Thời kỳ Đồ Đá Mới

Bảng màu Thời kỳ Đồ Đá Mới

Gần đây, tại địa điểm khảo cổ làng Sơn Tây (Trung Quốc), có một số phát hiện mới bao gồm cả bảng pha màu Thời kỳ Đồ Đá Mới, tiết lộ nhiều sự thật thú vị.