Đề xuất giám sát rối loạn tâm thần do áp lực kéo dài

Chính sách mới đề xuất giám sát rối loạn tâm thần do stress, áp lực công việc, học tập kéo dài nhằm phát hiện sớm và phòng ngừa hiệu quả.

Lần đầu tiên, áp lực học tập, công việc và stress kéo dài được đề xuất đưa vào diện giám sát nguy cơ rối loạn tâm thần nhằm phát hiện sớm và phòng bệnh.

Bộ Y tế đang xây dựng dự thảo thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh. Theo dự thảo, phạm vi giám sát sẽ không chỉ dừng lại ở những người đã được chẩn đoán mắc bệnh, mà mở rộng sang cả những người có nguy cơ. Mục tiêu là phát hiện sớm, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời ngay tại cộng đồng.

3 nhóm người thuộc diện giám sát nguy cơ tâm thần

Tại mục 2 của dự thảo, đối tượng giám sát được chia thành ba nhóm chính. Nhóm thứ nhất là người mắc rối loạn tâm thần. Nhóm này bao gồm các rối loạn phổ biến như tâm thần phân liệt, động kinh, trầm cảm, rối loạn lo âu, sa sút trí tuệ và các rối loạn khác theo danh mục chuyên môn.

Nhóm thứ hai là người tử vong do rối loạn tâm thần, được xác định theo hệ thống phân loại bệnh quốc tế. Việc theo dõi có hệ thống các trường hợp tử vong mà rối loạn tâm thần là nguyên nhân chính nhằm phục vụ công tác y tế công cộng. Qua đó, ngành y tế có thể nhận diện những bệnh lý rối loạn tâm thần có nguy cơ dẫn đến tử vong cao, từ đó xây dựng các biện pháp phòng ngừa và can thiệp phù hợp.

Áp lực học tập, công việc kéo dài có thể trở thành yếu tố nguy cơ rối loạn tâm thần và được đề xuất đưa vào diện giám sát để phát hiện sớm trong cộng đồng. Ảnh: Freepik.
Áp lực học tập, công việc kéo dài có thể trở thành yếu tố nguy cơ rối loạn tâm thần và được đề xuất đưa vào diện giám sát để phát hiện sớm trong cộng đồng. Ảnh: Freepik.

Nhóm thứ ba là người có nguy cơ mắc rối loạn tâm thần. Theo định nghĩa trong dự thảo, đây là những người từng có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc có ít nhất một yếu tố nguy cơ liên quan đến sinh học, tâm lý, xã hội hay các yếu tố khác.

Bốn nhóm yếu tố nguy cơ được đưa vào giám sát

Dự thảo thông tư cũng chỉ rõ bốn nhóm yếu tố nguy cơ có liên quan khả năng mắc rối loạn tâm thần.

Thứ nhất là yếu tố sinh học và di truyền. Các yếu tố này bao gồm tiền sử gia đình có người mắc rối loạn tâm thần; tổn thương não như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não; mắc các bệnh mạn tính như đái tháo đường, tim mạch, ung thư, HIV/AIDS, động kinh. Ngoài ra, những giai đoạn sinh lý đặc biệt như tuổi dậy thì, sau sinh, tiền mãn kinh - mãn kinh và người cao tuổi cũng được coi là nhóm dễ bị tác động.

Thứ hai là yếu tố tâm lý. Những yếu tố đáng chú ý gồm stress kéo dài; sang chấn tâm lý do mất người thân, ly hôn, thất nghiệp; bạo lực gia đình, xâm hại, tai nạn hoặc thảm họa. Bên cạnh đó là các đặc điểm nhân cách như nhạy cảm, dễ lo âu, tự ti hoặc cầu toàn quá mức; kỹ năng đối phó kém với stress và cảm xúc tiêu cực; tiền sử có ý nghĩ hoặc hành vi tự sát.

Thứ ba là yếu tố xã hội, như tình trạng cô lập, thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và cộng đồng; kỳ thị, phân biệt đối xử, đặc biệt với các nhóm yếu thế; môi trường sống không an toàn, có bạo lực, tội phạm hoặc thiên tai. Ngoài ra, việc lạm dụng các chất kích thích như rượu, bia, ma túy, thuốc an thần cũng được coi là yếu tố nguy cơ.

Thứ tư là các yếu tố khác, trong đó nhấn mạnh tình trạng áp lực cao và kéo dài trong học tập, lao động và kinh tế.

Đối với người đã mắc rối loạn tâm thần, cơ quan chuyên môn sẽ thu thập các thông tin cơ bản như họ tên, giới tính, ngày sinh, mã định danh cá nhân hoặc thẻ bảo hiểm y tế, nghề nghiệp, dân tộc và địa chỉ cư trú.

Ngoài ra, dữ liệu về tình trạng bệnh cũng được ghi nhận, bao gồm tên bệnh, ngày và nơi chẩn đoán, mức độ bệnh, tình trạng tái phát, số lần nhập viện lại, việc sử dụng thuốc hàng tháng, khả năng phục hồi chức năng và tình hình theo dõi tại nhà.

Với nhóm người có nguy cơ mắc bệnh, ngoài thông tin nhân thân, ngành y tế sẽ thu thập thêm dữ liệu liên quan đến sức khỏe và các yếu tố nguy cơ. Cụ thể, ở nhóm yếu tố sinh học và di truyền, các thông tin như tiền sử gia đình, quá trình mang thai của mẹ, bệnh lý mạn tính, tổn thương não hoặc các dấu hiệu nghi ngờ rối loạn chức năng thần kinh đều được xem xét.

Ở nhóm yếu tố tâm lý, cơ quan chức năng ghi nhận tiền sử rối loạn tâm thần, tự sát cũng như các biểu hiện sớm như giảm khả năng học tập, lao động, hạn chế giao tiếp xã hội, rối loạn cảm xúc hoặc hành vi kéo dài.

Trong khi đó, nhóm yếu tố xã hội sẽ tổng hợp các dữ liệu như tình trạng lạm dụng chất kích thích, hộ nghèo, thất nghiệp, bạo lực gia đình, bạo lực học đường hoặc tội phạm. Bên cạnh đó là thống kê số người đang chịu áp lực học tập hoặc công việc kéo dài.

Nam sinh bị rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng thuốc lá điện tử

Nam sinh 15 tuổi gặp phải các biến chứng nặng như rối loạn tâm thần, tổn thương não và tim sau khi sử dụng thuốc lá điện tử chứa cần sa.

Nam sinh 15 tuổi ở Hưng Yên được đưa đến bệnh viện cấp cứu trong tình trạng co giật, kích động, khóc lóc, la hét sau khi sử dụng thuốc lá điện tử chứa cần sa.

Ngày 23/10, chia sẻ về trường hợp này, BS Đỗ Tuấn Anh, Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, nam sinh N.Q.C (15 tuổi, trú tại Hưng Yên) vốn có tiền sử khỏe mạnh, 10 ngày trước gia đình phát hiện học sinh này hút thuốc lá điện tử.

Rối loạn cương dương ảnh hưởng sâu sắc chất lượng cuộc sống

Rối loạn cương dương không chỉ là vấn đề sinh lý mà còn là gánh nặng tâm lý to lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống và hạnh phúc cá nhân.

Muốn tự sát, trầm cảm nặng vì rối loạn cương dương

Bệnh nhân Hồ Văn Th., 42 tuổi, kỹ sư công nghệ thông tin. Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng buồn chán, có ý muốn tự sát. Anh Th. có tiền sử công việc căng thẳng, thường xuyên làm việc đêm và uống nhiều cà phê.

Đọc nhiều nhất

Tin mới