Quyết định rẽ hướng đầy bất ngờ
Sinh năm 1952 tại thị trấn Chidambaram, bang Tamil Nadu, Ấn Độ, Tiến sĩ vật lý Venkatraman Ramakrishnan có cha mẹ đều là nhà khoa học. Lúc nhỏ, cha mẹ thường xuyên đi công tác và nghiên cứu xa nên ông Venkatraman được ông bà và dì nuôi dưỡng, chăm sóc.
Vào thời trung học, ông Venkatraman từng tụt từ nhóm học sinh có thành tích đứng đầu xuống gần cuối lớp do mải đọc tiểu thuyết, chơi đùa. Tuy nhiên, mọi việc thay đổi sau khi ông gặp thầy giáo dạy toán và khoa học T.C. Patel. Nhờ đó, ông tìm lại niềm vui học tập. Nhờ học hành chăm chỉ, ông nhanh chóng tăng thành tích trong 2 năm cuối phổ thông và tốt nghiệp với vị trí thứ hai toàn trường.
Trong kỳ thi vào các Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT) và Trường Y CMC Vellore, ông Venkatraman đều thi trượt. Năm 16 tuổi, ông theo học ngành Vật lý tại Đại học Maharaja Sayajirao. Ba năm sau, ông sang Mỹ học tiến sĩ tại Đại học Ohio và lấy bằng vào năm 1976. Tuy nhiên, càng đi sâu vào Vật lý lý thuyết, ông càng cảm thấy mình chọn sai ngành.
Theo ông Venkatraman, tháng nào ông cũng đọc tạp chí Scientific American và cảm thấy hứng thú với lĩnh vực Sinh học. Vì vậy, khi ngoài 20 tuổi, ông quyết định rẽ hướng sang Sinh học khiến nhiều người cho rằng ông đã đưa ra lựa chọn "điên rồ".
Dù vậy, ông Venkatraman vẫn quyết tâm làm điều bản thân cho là đúng và bắt đầu lại sự nghiệp gần như từ số 0. Ông tham gia các lớp học sinh học cơ bản gồm: di truyền học, hóa sinh, và sinh học phân tử; rồi chuyển sang nghiên cứu tại Đại học California ở San Diego.
Đến năm 1978, khi ở Đại học Yale, ông Ramakrishnan bắt đầu nghiên cứu ribosome - bào quan xuất hiện trong tất cả các tế bào của sinh vật sống. Chúng thực hiện quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào. Các ribosome được cấu tạo từ các rARN và ribosome protein. Chúng dịch mã mARN thành chuỗi polypeptide (đơn vị cấu thành protein). Ribosome được xem như là nhà máy tổng hợp protein dựa trên các thông tin di truyền của gene.
Khi ấy, ribosome gần như là một bí ẩn. Nhiều nhà khoa học đánh giá việc nghiên cứu cấu trúc đầy đủ của ribosome là nhiệm vụ gần như bất khả thi bởi nó quá lớn, quá phức tạp, gồm hàng trăm nghìn nguyên tử. Thế nhưng, ông Ramakrishnan vẫn quyết tâm theo đuổi đến cùng.
Trong hơn 20 năm tiếp theo, ông Ramakrishnan làm việc tại nhiều phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu bao gồm: Đại học Yale, Phòng thí nghiệm Quốc gia Brookhaven, Đại học Utah, Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử MRC ở Cambridge (Anh). Tại những nơi làm việc đó, ông vẫn cố gắng giải mã bí ẩn về ribosome.
Kiên trì đam mê, vượt qua thử thách để giành giải Nobel
Những nỗ lực nghiên cứu về ribosome của TS Ramakrishnan cuối cùng đã mang về kết quả. Vào năm 1999, ông ở lại Cambridge và cùng cộng sự tập trung toàn lực vào việc giải cấu trúc tiểu đơn vị 30S của ribosome - phần then chốt trong việc đọc thông tin di truyền. Thành công của công trình này đã giúp xác định cấu trúc nguyên tử ba chiều mà còn làm sáng tỏ cơ chế tế bào tạo ra protein, nền tảng của mọi hoạt động sống.
Đến đầu năm 2000, nhóm nghiên cứu của TS Ramakrishnan đã làm đông lạnh hơn 1.000 tinh thể, chia ca 12 tiếng trong phòng thí nghiệm. Họ đã thức trắng nhiều đêm tại các máy gia tốc synchrotron để thu thập dữ liệu. Sau khi nhìn thấy những tín hiệu đầu tiên đủ rõ để xác định vị trí các nguyên tử, ông đã vô cùng vui mừng. Chỉ vài tuần sau, nhóm của ông hoàn thành mô hình nguyên tử đầu tiên của tiểu đơn vị 30S. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, con người có thể nhìn thấy chi tiết cách ribosome hoạt động.
Năm 2009, TS Ramakrishnan cùng 2 cộng sự là Thomas A. Steitz và Ada E. Yonath cùng được trao giải Nobel Hóa học với nghiên cứu chỉ ra được hình dáng ribosome và cách thức chúng vận hành ở quy mô nguyên tử.
Một năm sau, TS Ramakrishnan vinh dự được chính phủ Ấn Độ trao huân chương Padma Vibhushan - phần thưởng dân sự cao quý thứ hai của nước này. Ông được phong tước hiệp sĩ tại Anh và tiếp tục nghiên cứu, viết sách trong những năm tiếp theo.