![]() |
| Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng súng trường tiến công họ AK. |
![]() |
| Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ yếu dùng súng trường tiến công họ AK. |
![]() |
| Chiến sĩ mới của Tiểu đoàn 11 và Trung đoàn 218 thuộc Sư đoàn 361 thực hành kiểm tra 3 tiếng nổ, kết thúc giai đoạn huấn luyện tại Trường bắn của Trường Sĩ quan Pháo Binh ở Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội. |
![]() |
| Kết quả kiểm tra, 100% các khoa mục đều đạt yêu cầu. Trong đó, kết quả bắn súng có 69,8% khá giỏi; ném lựu đạn có 90,8% khá, giỏi; đánh lượng nổ 91,9% khá, giỏi. Kết quả trên được các chiến sĩ xem như “chiến công” đầu tiên trong quân ngũ. |
![]() |
| Ngay từ sáng sớm, cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 11 và Trung đoàn 218 có mặt đông đủ trên thao trường. Đây là đợt kiểm tra cuối cùng nhằm đánh giá quá trình rèn luyện của tân binh. |
![]() |
| Mặc cho thời tiết không thuận lợi, không khí thao trường vẫn sôi nổi. Từng chiến sĩ với gương mặt rắn rỏi sẵn sàng bước vào kiểm tra nội dung bắn súng AK. 8 chiến sĩ của Đại đội 1, Tiểu đoàn 11 vào nhận đạn, rồi bình tĩnh ngắm bắn, những tiếng nổ đanh giòn vang trên thao trường. |
![]() |
| Khẩu lệnh của người chỉ huy vang lên: “Thôi bắn, tháo đạn, khám súng”. Ở tuyến chờ, nhiều tiếng rì rầm của chiến sĩ phán đoán kết quả của đợt bắn. |
![]() |
| Từ xa, tổ báo bia lần lượt báo kết quả của từng người bắn. Những tràng vỗ tay vang lên phần nào giảm đi sự căng thẳng của những chiến sĩ chuẩn bị lên tuyến bắn. Trong ảnh là tư thế quỳ bắn quỳ bắn bia số 7. |
![]() |
| Loạt bắn thứ nhất, 100% chiến sĩ đều bắn trúng mục tiêu ở cả 3 tư thế. |
![]() |
| Tư thế đứng bắn súng AK bia số 8 |
![]() |
| Có mặt trực tiếp chỉ đạo và theo dõi các đơn vị kiểm tra bắn đạn thật, Đại tá Phan Anh Dũng - Phó Sư đoàn trưởng nhận xét: "Lần đầu tiên các chiến sĩ mới bắn đạn thật nên có đồng chí tâm lý căng thẳng là điều dễ thấy". Trong ảnh là chiến sĩ lên xem kết quả bắn súng. |
![]() |
| Tại lễ tuyên thệ chiến sĩ mới, Thủ trưởng Phòng Tham mưu Sư đoàn 361 đã ký quyết định tặng giấy khen cho 4 tập thể gồm: Trung đội 1, Đại đội 1; Trung đội 1, Đại đội 2; Trung đội 1, Đại đội 3 và 13 cá nhân của Tiểu đoàn 11 vì hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện. |
![]() |
| Thượng tá Đinh Quang Đệ - Tiểu đoàn trưởng và Trung tá Lê Minh Đức - Chính trị viên Tiểu đoàn lần lượt gắn hoa lên ngực các chiến sĩ bắn đạt kết quả giỏi. Đồng đội vây quanh chúc mừng và hỏi kinh nghiệm bắn, chiến sĩ Đặng Quang Việt ở Tiểu đội 8, Trung đội 3 thực hiện bài bắn AK ở 3 tư thế đều đạt giỏi với điểm tổng là 80 điểm chia sẻ: “Khi bắn cần lấy đường ngắm thật chuẩn, bóp cò phải dứt khoát, đúng thời điểm”. Trong ảnh là trao hoa bắn giỏi cho chiến sĩ bắn giỏi. |
![]() |
| Trong ảnh là súng tiểu liên MAS-38 do nhà máy vũ khí St Etience của Pháp sản xuất từ năm 1935, chính thức đưa vào trang bị từ 1938. MAS-38 được quân đội viễn chinh Pháp sử dụng phổ biến với số lượng lớn trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược Đông Dương. Hàng ngàn khẩu bị Quân đội Nhân dân Việt Nam tịch thu và được sử dụng trong chiến đấu dưới cái tên “tiểu liên Mát”. MAS-38 dùng cỡ đạn 7,62x20mm, tốc độ bắn 600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 50-100m. |
![]() |
| Tiểu liên MAT-49 do nhà máy vũ khí Tulle Pháp sản xuất từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2. MAT-49 bắt đầu được đưa sang Đông Dương trong giai đoạn cuối 1950, đầu 1951 và sau đó dần dần thay thế các loại tiểu liên khác của Anh, Mỹ, Đức để trở thành tiểu liên chủ lực trong quân viễn chinh Pháp. Trong chiến đấu hàng nghìn khẩu MAT-49 (thường được biết đến với tên “tiểu liên Tuyn (Tulle)”) đã bị quân dân Việt Nam tịch thu và cũng nhanh chóng trở thành một trong hai loại tiểu liên chính của bộ đội chủ lực lúc đó. |
![]() |
| Trong giai đoạn đầu của kháng chiến chống Mỹ, MAT-49 tiếp tục được các đơn vị Quân giải phóng miền Nam và dân quân du kích sử dụng với số lượng lớn. Năm 1962, quân giới Việt Nam thực hiện cải biên MAT-49, thay nòng súng nguyên bản bằng nòng tiểu liên K50, thay đầu ngắm và cải tiến băng đạn để lắp đạn K50. Trong 2 năm 1962-1963, trên 2.000 khẩu MAT-49 được cải tiến và đưa vào chi viện cho miền Nam. |
![]() |
| Thông số MAT-49 nguyên bản/MAT-49 cải tiến gồm: cỡ đạn 9x19mm/7,62x25mm (hộp tiếp đạn 32 viên); tốc độ bắn 600/900 phát/phút; tầm bắn hiệu quả 150m. |
![]() |
| Tiểu liên Sten do nhà máy vũ khí Enfield (Anh) phát triển và sản xuất ngay trong chiến tranh thế giới 2. Trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược Đông Dương, quân Pháp tiếp tục sử dụng khá nhiều tiểu liên Sten do Anh cung cấp. Về phía Việt Nam, một số ít Sten được tiếp nhận từ viện trợ của tổ chức tình báo OSS (Mỹ) vào năm 1945, nhưng chủ yếu là tịch thu được từ quân Anh, Pháp trong chiến đấu. Sten dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 550 phát/phút và tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Lanchester do công ty vũ khí Sterling (Anh) phát triển từ năm 1940 để trang bị cho Hải quân Hoàng gia Anh. Trong kháng chiến chống Pháp, Việt Nam sử dụng một số tiểu liên Lanchester, có lẽ xuất phát từ chiến lợi phẩm thu được hoặc mua qua con đường bí mật từ Thái Lan, Malaysia. Lanchester dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 hoặc 50 viên), tốc độ bắn 600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Thompson do nhà thiết kế J.T. Thompson phát triển từ trong Chiến tranh thế giới thứ 1 và trang bị cho Quân đội Mỹ sử dụng rộng rãi trong nhiều năm. Sau này, chúng được Quân đội Pháp sử dụng nhiều trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bộ đội ta thu giữ được hàng nghìn khẩu loại này và trang bị để đánh Pháp. Bên cạnh những biến thể của Mỹ, Việt Nam còn sử dụng biến thể do Trung Quốc chế tạo và một số ít do các xưởng quân giới tự sản xuất. |
![]() |
| Thông số biến thể Thompson (M1921/M1928/M1) gồm: dùng cỡ đạn 11,23x23mm (hộp tiếp đạn 20/30/50/100 viên cho biến thể M1921/M1928 hoặc 20/30 viên cho M1); tốc độ bắn 1.000/700/700 phát/phút; tầm bắn hiệu quả 100-150m. |
![]() |
| Tiểu liên M3 được Mỹ nghiên cứu phát triển từ đầu năm 1941 với ý định thiết kế một loại súng đơn giản, rẻ tiền và dễ sản xuất hơn nhằm thay thế cho tiểu liên Thompson. Trong kháng chiến chống Pháp, ta thu được một số lượng không nhỏ tiểu liên M3, cùng với đó là một số biến thể do Trung Quốc “sao chép”. |
![]() |
| Đặc biệt, một số biến thể kiểu 37 được quân giới Việt Nam cải tiến gắn thêm nòng giảm thanh để trang bị cho các đơn vị đặc công, biệt động và thường được biết đến dưới cái tên “tiểu liên Mã Lai”. Loại tiểu liên M3 dùng đạn 11,23x23mm (hoặc 9x19mm với một số biến thể), hộp tiếp đạn 30 viên, tốc độ bắn 450 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 50m. |
![]() |
| Tiểu liên Madsen do Đan Mạch thiết kế và chế tạo với nhiều biến thể như kiểu 1946 (M-46), kiểu 1950 (M-50) và kiểu 1953 (M-53). Trong chiến tranh Việt Nam, loại súng này thường được trang bị cho các đơn vị biệt kích của Pháp, Mỹ và Quân đội Sài Gòn. Một số ít đã bị quân dân Việt Nam tịch thu trong chiến đấu và sử dụng lại. Madsen dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 480 phát/phút (hoặc 550 phát/phút với biến thể M-50/M-53), tầm bắn hiệu quả 100m. |
![]() |
| Tiểu liên PPSh-41 do Liên Xô phát triển từ năm 1940 và sản xuất hàng loạt từ năm 1942. Trong 5 năm, trên 5 triệu khẩu PPSh-41 được sản xuất và viện trợ rộng rãi cho các quốc gia đồng minh. Từ năm 1951, Việt Nam tiếp nhận những khẩu PPSh-41 đầu tiên là phiên bản kiểu 50 do Trung Quốc sản xuất và loại súng này nhanh chóng trở thành một trong những kiểu tiểu liên chính của bộ đội chủ lực trong kháng chiến chống Pháp dưới tên gọi K50. |
![]() |
| Tiểu liên K50 được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ, sau đó còn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, được các lực lượng vũ trang Việt Nam sử dụng rộng rãi trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ và chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979. |
![]() |
| Đặc biệt, đầu năm 1962, để phục vụ yêu cầu giữ bí mật nguồn cung cấp vũ khí cho miền Nam, quân giới Việt Nam thay vỏ bọc mới, thay báng gỗ bằng báng rút bằng thép để cải tiến cho K50 có hình dạng tương tự tiểu liên MAT-49 của Pháp. Tính đến năm 1968, trên 10.000 khẩu K50 được cải tiến (thường được phương Tây biết đến dưới cái tên K50M) và đưa vào chi viện cho miền Nam. Súng PPSh-41/K50 dùng cỡ đạn 7,62x25mm, tốc độ bắn 900/700 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-250m. |
![]() |
| Tiểu liên PPS-43 do Liên Xô phát triển từ năm 1942 nhằm đáp ứng yêu cầu về một loại tiểu liên gọn nhẹ, rẻ tiền, dễ chế tạo trang bị cho các đơn vị xe tăng, lính dù và trinh sát của Liên Xô. Trong thời gian 1943-1946, trên 2 triệu khẩu được chế tạo, trang bị cho Hồng quân cùng nhiều quốc gia đồng minh của Liên Xô. |
![]() |
| Việt Nam được Liên Xô viện trợ số lượng lớn PPS-43 trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và đưa vào sử dụng phổ biến trong giai đoạn trước 1967 dưới tên gọi K43. Loại súng này còn được các lực lượng vũ trang địa phương sử dụng trong chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979. Súng dùng cỡ đạn 7,62x25mm (hộp tiếp đạn 35 viên), tốc độ bắn 500-600 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 200m. |
![]() |
| Tiểu liên MP-38/40 do Đức nghiên cứu phát triển từ những năm 1930 để trang bị cho quân đội nước này dùng phổ biến trong Chiến tranh thế giới 2. Trong giai đoạn đầu chiến tranh xâm lược ở Đông Dương, quân Pháp sử dụng số lượng lớn tiểu liên MP-38/40. Quân dân Việt Nam thu được nhiều khẩu và sử dụng lại trong chiến đấu cho đến tận thời kỳ đầu kháng chiến chống Mỹ. Súng dùng cỡ đạn 9x19mm (hộp tiếp đạn 32 viên), tốc độ bắn 500 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100m. |
![]() |
| Tiểu liêu SA25 và SA26 do Tiệp Khắc phát triển sau Chiến tranh thế giới 2. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Tiệp Khắc viện trợ một số phiên bản báng gập nhưng loại súng này xuất hiện và được sử dụng không nhiều. |
![]() |
| Thông số kỹ thuật tiểu liên SA25/SA26 gồm: dùng cỡ đạn 9x19/7,62x25mm; hộp tiếp đạn 24-40 viên đối với SA25 và 32 viên với SA26; tốc độ bắn 650 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100-200m. |
![]() |
| Tiểu liên Skorpion kiểu 1961 do Tiệp Khắc nghiên cứu thiết kế từ cuối những năm 1950. Trong thời gian kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Tiệp Khắc viện trợ một số tiểu liên Skorpion và chủ yếu trang bị cho các đơn vị đặc công biệt động dưới tên gọi K61. Súng dùng cỡ đạn 7,62x17mm (hộp tiếp đạn 10-20 viên), tốc độ bắn 850 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 25-50m. |
![]() |
| Tiểu liên kiểu 63 hay PM-63 do Ba Lan phát triển từ những năm 1950-1960. Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam được Ba Lan viện trợ một số tiểu liên PM-63 và chủ yếu trang bị cho các đơn vị đặc công, biệt động dưới tên gọi P63. Súng dùng cỡ đạn 9x18mm, hộp tiếp đạn 15-25 viên, tốc độ bắn 650 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 100-150m. |
![]() |
| Tiểu liên Type 64 do Trung Quốc phát triển dành cho lực lượng trinh sát, biệt kích. Trong kháng chiến chống Mỹ, Việt Nam nhận một số lượng nhỏ Type 64 trang bị cho lực lượng công an vũ trang dưới tên gọi K64. Súng dùng cỡ đạn 7,62x25mm, hộp tiếp đạn 30 viên, tốc độ bắn 1.300 phát/phút, tầm bắn hiệu quả 150-200m. |
![]() |
| Để tải ảnh kích thước lớn, vui lòng nhấp vào đây và sử dụng chức năng zoom. |
Công ty Ukrainian Armor sẽ trang bị cho Xe robot mặt đất không người lái của mình nhiều loại vũ khí, bao gồm hệ thống laser chưa được tiết lộ danh tính.
Pakistan và Ả Rập Xê Út tiến hành đàm phán chuyển 2 tỷ USD nợ tài chính thành hợp đồng JF-17, mở ra hướng liên kết mới giữa hợp tác quân sự.
Oreshnik, tên lửa tầm trung mới của Nga, có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, đe dọa hệ thống phòng thủ NATO và làm tăng rủi ro xung đột.
Hai biến thể mới của máy bay không người lái cảm tử Geran, gồm Geran-4 và Geran-5, đang được phát triển để có thể phóng từ máy bay.
Một phương tiện phòng không cơ động lạ xuất hiện trong video của Ukraine được cho là hệ thống Tempest do Mỹ chế tạo, lần đầu tham chiến.
Một phương tiện phòng không cơ động lạ xuất hiện trong video của Ukraine được cho là hệ thống Tempest do Mỹ chế tạo, lần đầu tham chiến.
Pakistan và Ả Rập Xê Út tiến hành đàm phán chuyển 2 tỷ USD nợ tài chính thành hợp đồng JF-17, mở ra hướng liên kết mới giữa hợp tác quân sự.
Hai biến thể mới của máy bay không người lái cảm tử Geran, gồm Geran-4 và Geran-5, đang được phát triển để có thể phóng từ máy bay.
Oreshnik, tên lửa tầm trung mới của Nga, có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, đe dọa hệ thống phòng thủ NATO và làm tăng rủi ro xung đột.
Công ty Ukrainian Armor sẽ trang bị cho Xe robot mặt đất không người lái của mình nhiều loại vũ khí, bao gồm hệ thống laser chưa được tiết lộ danh tính.
Kênh CCTV tiết lộ mô phỏng chiến đấu giữa J-16 và Rafale, gửi thông điệp về năng lực quân sự và sự vượt trội của Trung Quốc.
Có vẻ như K2 Black Panther thường được coi là một trong những xe tăng chiến đấu chủ lực tiên tiến nhất thế giới hiện nay.
Cuộc diễn tập tại mũi Hảo Vọng phản ánh sự dịch chuyển trong cấu trúc hợp tác hải quân toàn cầu, với sự tham gia của Trung Quốc, Nga, Iran và Nam Phi.
Trên hướng mặt trận Kostiantynivka, Nga chiếm được ít nhất 18 km vuông lãnh thổ trong vòng 24 giờ; trên hướng Zaporizhzhia, giao tranh diễn ra ác liệt.
Chiến dịch Southern Spear của Mỹ kiểm soát tàu dầu Olina, nhằm cắt đứt dòng tiền tài trợ cho các chính quyền bị trừng phạt và nhóm vũ trang.
Giữa điều kiện khắc nghiệt Tây Nguyên, những việc làm bình dị của cán bộ, chiến sĩ Quân khu 7 đã sưởi ấm lòng dân xã Cát Tiên 3, tỉnh Lâm Đồng.
Quân đội Nga mở rộng tiến công tại Zaporizhzhia, tiến đến Staroukrainka và kiểm soát thêm lãnh thổ quanh Hulyaipole.
Việc liên tục sử dụng tên lửa siêu thanh Oreshnik từ Nga làm dấy lên lo ngại về sự thay đổi trong chiến lược quân sự và an ninh khu vực.
Sau gần 40 ngày đêm, cán bộ, chiến sĩ Lữ đoàn 574, Quân khu 5 đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nhà ở giúp nhân dân trong "Chiến dịch Quang Trung".
Sáng 10/1, tại tỉnh Gia Lai, Quân chủng Hải quân tổ chức khánh thành, bàn giao 2 ngôi nhà ở cho nhân dân trong Chiến dịch Quang Trung.
Đại tướng Lê Văn Dũng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân đã từ trần hồi 15h40' ngày 9/1/2026, hưởng thọ 81 tuổi.
Việc mua JF-17 giúp Saudi Arabia đa dạng hóa lực lượng, cân bằng giữa tiêm kích hạng nặng và nhẹ, đồng thời tăng khả năng phòng không tự chủ.
Nga lần đầu công khai thừa nhận sử dụng tên lửa đạn đạo tầm trung Oreshnik tấn công sâu vào Ukraine, phát đi tín hiệu răn đe chiến lược.
Trong những ngày đầu năm 2026, Nga đã dồn tập tiến công tỉnh Zaporizhzhia, kiểm soát Staroukrainka và đã tiến vào Primorskoye.
Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của máy bay chiến đấu Su-57 của Nga trang bị động cơ thế hệ thứ năm “Product 177” đã được hoàn thành.