“Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống/Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu”, đó là những câu trong “Bài thơ về hạnh phúc” tôi viết tặng Xuân Quý sau ngày Quý hy sinh. Tôi nguyện từng ngày, từng phút một sống đúng với lời nguyện thề ấy: Sống đẹp, ngày ngày sống đẹp, trọn đời sống đẹp. Xuân Quý đã trọn đời thanh thản lương tâm, vì Nhân dân quên mình, vì Nhân dân hy sinh”, nhà thơ Bùi Minh Quốc (Dương Hương Ly), chồng của liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý từng chia sẻ.
"Trên mồ em có mùa xuân ở mãi"…
"Thôi em nằm lại
với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi..."
Những câu thơ mở đầu của Bài thơ về hạnh phúc cũng là lời tiễn biệt nghẹn ngào nhà thơ Bùi Minh Quốc dành cho người vợ yêu thương - nhà văn, nhà báo, liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý. Phía sau những vần thơ lay động nhiều thế hệ là một chuyện tình đẹp nhưng dang dở giữa hai người cầm bút đã gửi trọn tuổi xuân cho chiến trường.
Năm 1961, nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý gặp gỡ rồi đem lòng yêu nhau. Năm 1966, họ tổ chức lễ cưới. Chỉ một năm sau, khi con gái đầu lòng Bùi Dương Hương Ly mới tròn 6 tháng tuổi, nhà thơ Bùi Minh Quốc tình nguyện vào chiến trường miền Nam, công tác tại Ban Văn nghệ Khu V. Trong những năm tháng ấy, ông được biết đến với tập thơ Mảnh đất nuôi ta thành dũng sĩ, ký bút danh Dương Hương Ly.
Năm 1968, nhà báo Dương Thị Xuân Quý cũng lên đường vào Nam, gửi lại con gái nhỏ cho mẹ là bà Hoàng Thị Tín chăm sóc. Hai vợ chồng cùng làm việc tại một tờ báo tuyên truyền của Quân Giải phóng miền Trung Trung Bộ đóng trên núi. Trước giờ lên đường, họ gom những bài thơ, truyện ngắn đã đăng rải rác trên báo chí để in chung thành tập Chỗ Đứng (1968), như một dấu mốc cho tình yêu và lý tưởng mà cả hai cùng theo đuổi.
Thế nhưng, khi những cuốn sách đầu tiên được chuyển từ Hà Nội vào chiến trường, nhà báo Dương Thị Xuân Quý đã không còn. Trong một chuyến công tác xuống vùng đồng bằng Quảng Đà, hầm bí mật nơi bà hoạt động bị lính Đại Hàn phát hiện. Thời điểm ấy, nhà thơ Bùi Minh Quốc đang ở lại cơ quan để hoàn thành một bài báo dang dở.
Ngày 8/3/1969, nhà báo Dương Thị Xuân Quý hy sinh tại Duy Xuyên, Quảng Nam, khi mới 28 tuổi. Suốt nhiều năm sau, nhà thơ Bùi Minh Quốc lặng lẽ đi tìm nơi yên nghỉ của người vợ liệt sĩ vào các năm 1983, 1995 và 2000. Mãi đến chiều 3/8/2006, sau 37 năm, ông mới tìm được phần mộ của vợ. Điều khiến nhiều người nghẹn lòng là nơi nhà thơ Dương Thị Xuân Quý yên nghỉ chỉ cách tấm bia tưởng niệm do chính người chồng dựng từ năm 1996 khoảng 30m.
Sau khi vợ hy sinh, nhà thơ Bùi Minh Quốc đã sáng tác Bài thơ về hạnh phúc, làm lay động bao trái tim người đọc. Sau này, tiếp nối mạch cảm xúc ấy, ông còn viết Bài thơ về tình yêu - tác phẩm sau này được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng Cuộc đời vẫn đẹp sao.
Nhiều năm sau, nhà thơ Bùi Minh Quốc tâm sự, ông luôn có cảm giác đôi mắt của người vợ Dương Thị Xuân Quý dõi theo từng bước mình đi. Ông sống như một cách gìn giữ lời hẹn ước với người vợ đã nằm lại tuổi 28, luôn tâm niệm phải sống sao để "khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí".
"Miền Nam cần tôi làm gì, ở đâu, tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ"
Nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19/4/1941 trong một gia đình có truyền thống yêu nước và văn hiến nổi tiếng tại phố Hàng Bông (Hà Nội), quê gốc ở thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên .
Ông nội là cụ Dương Trọng Phổ, bác ruột là nhà yêu nước Dương Bá Trạc đều tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục và từng bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Thân phụ bà, ông Dương Tụ Quán, là người chủ trương Văn học Tạp chí, sau đó là Tri Tân - một trong những tạp chí văn hóa, học thuật có ảnh hưởng lớn trước Cách mạng Tháng Tám. Trong dòng họ còn có nhà nghiên cứu văn hóa Dương Quảng Hàm và các họa sĩ tên tuổi Dương Bích Liên, Dương Cẩm Chương.
Được nuôi dưỡng trong môi trường giàu truyền thống học thuật và yêu nước, Dương Thị Xuân Quý sớm lựa chọn con đường cầm bút. Nhưng với bà, cây bút không chỉ để sáng tác mà còn là một cách phụng sự Tổ quốc.
Năm 1965, khi đang là phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam, nhà báo Dương Thị Xuân Quý viết đơn tình nguyện vào chiến trường miền Nam. Trong lá đơn, nữ phóng viên 24 tuổi khẳng định mình đủ sức khỏe và sẵn sàng đảm nhận bất cứ công việc nào, từ dạy học, làm báo đến công tác Đoàn, công tác thiếu nhi.
Bà viết đầy quyết tâm: "Miền Nam cần tôi làm gì, ở đâu, tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ, không mảy may tính toán. Tôi không sợ gian khổ, hy sinh, chỉ sợ không được chọn làm những việc vinh quang để phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược."
Ba năm sau, nguyện vọng ấy mới được chấp thuận. Ngày 14/6/1968, nhà thơ Dương Thị Xuân Quý lên đường vào chiến trường Quảng Nam, gửi lại con gái mới 16 tháng tuổi cho mẹ ruột chăm sóc.
Ở chiến trường Quảng Đà, nữ nhà văn vừa cầm bút vừa cùng đồng đội gùi gạo, đào hầm, băng rừng, vượt suối, chống những trận càn quét của địch. Giữa bom đạn, bà vẫn miệt mài ghi chép, lưu lại những tháng năm chiến đấu gian khổ nhưng hào hùng của quân và dân Khu V.
Trong lá thư gửi con gái nhỏ, người mẹ trẻ trải lòng về lời hứa với chính mình: "... Mẹ đã thầm hứa với con: từ nay phải bắt đầu những trang viết... Mẹ sẽ vượt qua tất cả: sự vất vả, nỗi gian khổ và những khó khăn... Mẹ sẽ hết sức tranh thủ để có thể viết được, con nhé."
Bà hy sinh khi mới 28 tuổi. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng bà để lại một di sản văn chương giàu giá trị với các tác phẩm như Về làng (1960), Chỗ đứng (1968), Hoa rừng (1970) và đặc biệt là Nhật ký chiến trường.
Không chỉ là cuốn nhật ký riêng, Nhật ký chiến trường còn là bức tranh chân thực về cuộc sống và chiến đấu của bộ đội, nhân dân trên tuyến Trường Sơn và chiến trường Khu V sau Tết Mậu Thân 1968. Tác phẩm phản ánh tinh thần dấn thân của một thế hệ văn nghệ sĩ sẵn sàng cầm bút giữa lằn ranh sinh tử, góp phần làm nên sức mạnh tinh thần trong cuộc kháng chiến.
Trong những dòng nhật ký viết ngày 15/12/1968, bà viết: "Lạ thế, biết nguy hiểm nhưng vẫn sẵn sàng lao vào, dù có hy sinh. Đời người ai chả chết. Dĩ nhiên mình có nghĩ đến đau khổ của anh và Ly. Nhưng cái gì cũng qua thôi... Đó là ý nghĩ của mình khi được phân công đi công tác Quảng Đà từ nay đến cuối tháng 3- 1969... Lo, mình lo chứ. Nhưng mình quyết tâm và nghĩ thế này: dù có chết thì cũng như bao người phải chết thôi. Nghĩ vậy, không thấy sợ nữa...".
Sự cống hiến và hy sinh của nhà văn Dương Thị Xuân Quý được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng Bằng "Tổ quốc ghi công" (tháng 5/1972). Năm 2007, bà được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật, ghi nhận những đóng góp đặc biệt của một nhà văn, nhà báo đã hiến trọn tuổi xuân và tài năng cho đất nước.