Kỹ sư Vũ Đình Thanh, chuyên gia kỹ thuật và đại diện NPO ALMAZ (Nga) tại Việt Nam cho hay, công trình nghiên cứu của ông kéo dài 10 năm được thực hiện cùng sự kiểm tra, rà soát của Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ AHLLVTND, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Huy Hiệu.
Nghiên cứu cho thấy, Hoàng đế Quang Trung mới là người thống nhất đất nước từ năm 1789, đồng thời tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc của triều Tây Sơn chống thực dân Pháp từ năm 1792.
Vua Quang Trung không chỉ đánh tan 29 vạn quân Thanh mà còn cứu người dân Thanh Hóa, Nghệ An và Bắc Hà khỏi nạn đói khủng khiếp giai đoạn 1788-1789.
Tác giả kỳ vọng những nhận định tiếp tục được giới chuyên môn trao đổi, phản biện trên cơ sở các nguồn sử liệu liên quan.
Nguồn lương thực từ Gia Định và hậu phương của đại thắng năm 1789
Theo kỹ sư Vũ Đình Thanh, báo cáo mật ngày 18/6/1788 của Bá tước Thomas de Conway, Tổng chỉ huy lực lượng vũ trang Pháp tại Ấn Độ và Đông Nam Á, người trực tiếp thực thi mệnh lệnh của Bộ Hải quân Pháp trong việc chuẩn bị các điều kiện cho kế hoạch quân sự nhằm vào Đại Việt, cũng như chuỗi chỉ thị và báo cáo mật của Hải quân Pháp giai đoạn 1788-1789 đã củng cố nhận định rằng phía Pháp không xác định được tung tích của Nguyễn Ánh.
Cụ thể, chỉ thị ngày 14/8/1788 của Bá tước Thomas de Conway giao Hiệp sĩ Kersaint chỉ huy hai chiến hạm La Dryade và Le Pandoure thực hiện nhiệm vụ trinh sát toàn diện bờ biển Cochinchine, thu thập thông tin về địa hình, cảng biển, hậu cần và lực lượng quân sự để chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh.
Đến ngày 14/3/1789, hiệp sĩ Kersaint gửi báo cáo hậu trinh sát về Pháp xác nhận đã lập bản đồ bờ biển để sẵn sàng dẫn hải đội Pháp tấn công khi cuộc viễn chinh diễn ra, nhưng suốt năm 1789, các chiến hạm Pháp không hề gặp được Nguyễn Ánh. Song song đó, thủ bút nhật ký của Chevalier de Préville trên chiến hạm hoàng gia Le Pandour năm 1789 (hiện lưu trữ tại tỉnh Aube, Pháp) cũng ghi nhận rõ ràng: “Những người Tây Sơn, hiện là những người làm chủ xứ Cochinchine”.
Theo nghiên cứu của kỹ sư Vũ Đình Thanh, vương triều Tây Sơn đã làm chủ hoàn toàn vùng đất Gia Định - Nam Bộ từ năm 1782.
Tại đây, Đông định vương Nguyễn Lữ đã tổ chức mô hình công trường sản xuất lúa gạo của quân đội (điền quân). Đây là một tư duy tổ chức nông nghiệp quy mô lớn, tập trung, vượt trước thời đại hàng trăm năm, giúp triều đại Tây Sơn tích lũy được nguồn lương thực khổng lồ.
Chính nguồn hậu cần chiến lược này đã trở thành phao cứu sinh cho cả dân tộc. Trong các năm 1788–1789, miền Bắc chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu tiểu băng hà, kết quả của chiến tranh liên miên và sự vơ vét tàn bạo của 29 vạn quân Thanh, dẫn đến một nạn đói khủng khiếp tại Thanh – Nghệ và Bắc Hà. Hoàng đế Quang Trung đã sáng suốt điều động hàng trăm chiến hạm, có lần huy động tới 400 chiến thuyền vận tải khối lượng lúa gạo khổng lồ từ Gia Định ra cứu đói miền Bắc.
Sĩ quan Pháp Chevalier de Préville trong nhật ký năm 1789 cũng phải thừa nhận vùng đất này sản xuất lương thực lớn đến mức “gần 200 thuyền buồm Trung Hoa đã xuất khẩu gạo từ đó năm 1787”.
Chính sách cứu dân nghĩa hiệp này là lý do cốt lõi khiến nhân dân Thanh - Nghệ đồng lòng hướng về Tây Sơn, giúp Vua Quang Trung tuyển mộ được 8 vạn quân nhuệ khí ngút trời chỉ trong vài ngày ngắn ngủi trên đường ra Bắc. Đây là yếu tố hậu cần tối quan trọng quyết định trực tiếp đến đại thắng mùa Xuân Kỷ Dậu 1789. Tiếp sau đó, vua Quang Trung còn có chính sách miễn thuế, khuyến nông. Nhờ vậy, nhân dân Bắc Hà mới hồi sinh sau nạn đói khủng khiếp.
Bản hịch năm 1792: Lời hiệu triệu cho cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại
Sự thảm bại của kế hoạch can thiệp quân sự năm 1788–1789 không làm cho các thế lực thực dân Pháp từ bỏ tham vọng. Đến năm 1792, nhận thấy sự lớn mạnh của vương triều Tây Sơn và nguy cơ mất trắng tầm ảnh hưởng tại Đông Nam Á, các tàu chiến Pháp bắt đầu đẩy mạnh các hoạt động quấy rối và chuẩn bị cho một cuộc tấn công bất ngờ vào bờ cõi Đại Việt. Chính trong bối cảnh đó, triều đại Quang Trung đã gánh vác cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại chống lại âm mưu xâm lược của thực dân Pháp.
Trước nguy cơ các chiến hạm Pháp cấu kết hành động, Hoàng đế Quang Trung đã viết lời hiệu triệu hào hùng. Bản Hịch năm 1792 của Hoàng đế Quang Trung (hiện có thể tra cứu trên hệ thống Thư viện Quốc gia Pháp - Gallica) là một văn kiện lập quốc vô giá. Trong bản hịch, Hoàng đế chỉ rõ Nguyễn Ánh là kẻ không có thực lực, đang lưu lạc cầu viện ở châu Âu.
Bản hịch gọi quân viễn chinh Pháp là bọn “mắt rắn xanh, xác chết trôi giạt từ Biển Bắc” cậy có tàu đồng, khinh khí cầu để mưu đồ bất chính. Vua ngợi khen tinh thần dũng cảm chống Tây của nhân dân Gia Định, đồng thời đưa ra lời cam kết đanh thép: Vua sẽ đích thân thống lĩnh đại quân Đại Việt, tiến quân vào Nam và “đập nát giặc Tây như bóp nát củi khô”.
Từ nghiên cứu, kỹ sư Vũ Đình Thanh cho rằng, triều đại Tây Sơn, dưới sự chèo lái của Hoàng đế Quang Trung, không chỉ có công đánh phong kiến trong nước, quét sạch quân Xiêm, quân Thanh xâm lược, mà còn là vương triều đầu tiên trực tiếp đối đầu và đẩy lùi cuộc xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây ngay từ cuối thế kỷ XVIII.
Bằng sức mạnh quân sự và sự đồng lòng của toàn dân, vua Quang Trung đã trì hoãn họa thuộc địa gần một thế kỷ, giữ cho người dân Đại Việt không bị rơi vào cảnh nô lệ, bị mua bán như súc vật như cách mà thực dân Pháp đã thực hiện ở nhiều quốc gia châu Phi và châu Á cùng thời kỳ.
Theo Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, việc các trung tâm lưu trữ của Pháp số hóa và công khai nhiều hồ sơ gốc tạo điều kiện để giới nghiên cứu và công chúng tiếp cận trực tiếp các tư liệu, qua đó có thêm cơ sở đối chiếu và tìm hiểu về một giai đoạn lịch sử của dân tộc.
Kỹ sư Vũ Đình Thanh cho hay, lịch sử luôn cần được tiếp cận bằng tinh thần khoa học, tôn trọng tư liệu và sẵn sàng kiểm chứng. Ông mong công trình sẽ tiếp tục nhận được các ý kiến trao đổi, phản biện của giới sử học và các nhà nghiên cứu để góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề còn có nhiều cách lý giải khác nhau về lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XVIII.